Sự phát triển văn hóa tâm linh ở Việt Nam cũng có sứ mạng của nó?

09:12 |
Trần Thị Ngự

Trong lần về Việt Nam cách đây mấy tháng, tôi nhận thấy có một sự thay đổi lớn lao về các sinh hoạt tâm linh và tôn giáo ở miền Bắc Việt Nam. Lần tôi đi Hà Nội trước khi "xuất ngoại tìm đường cứu nước" cách đây đã hơn 25 năm. Khi ấy tôi thấy nhà của những người bà con tôi đến thăm đều có hình "bác Hồ", hoặc là được treo ngay chỗ dễ nhìn nhất khi mới bước vào trong nhà, hoặc là ở trên bàn thờ cùng với hình của những người quá cố khác. Bàn thờ rất đơn giản, có khi không thấy cả bát nhang hay cây nến (có thể vì không phải là ngày có cúng kiếng).

ảnh minh họa... Photo zoup.vn


Lúc đó người nhà cũng đưa tôi cũng đi thăm mấy chùa/đền quanh Hà Nội. Tôi có thăm đền Trấn Quốc gần Hồ Tây, nhưng thấy rất vắng lặng. Tiện đường ghé qua chùa gì (không nhớ tên) ở ngoài Hồ Tây thì chỉ nghe tiếng chó sủa rất dữ dội. Tôi thấy lạ, nhưng không dám hỏi. Người nhà giải thích chùa chỉ mở cửa ngày rằm và mùng một nên ngày thường không có ai đến.

Mấy hôm sau, vào ngày rằm, người nhà đưa đi thăm chùa Quán Sứ, được coi là nổi tiếng về kiến trúc. Đến chùa lúc ấy gần giờ "cúng ngọ," tôi thấy các sư, cả nam lẫn nữ, đang tấp nập chuẩn bị đưa đồ cúng lên bàn thờ Phật. Đang ngạc nhiên về việc nam nữ tu sĩ cùng ở chung một chùa thì tôi lại càng sửng sốt khi thấy các đĩa giò lụa được đưa lên bàn thờ Phật (ở chùa thì phải cúng chay chứ nhỉ?). Khi thắc mắc thì người nhà giải thích là chùa ở đây không ăn chay. Khi về đến Sài Gòn, tôi đem chuyện ăn mặn ở chùa Quán Sứ kể cho một người chị, vốn là đệ tử của Thày Thích Minh Châu, thì chị cho biết thày Thích Minh Châu thường phải mang theo một hũ muối mè mỗi khi ra Hà Nội họp (về tôn giáo).

Cái thời chưa mở cửa ấy, như mọi người đều biết, nhà cửa còn rất khó khăn, nhiều gia đình chỉ được chia một phòng trong một căn nhà, nấu ăn thì ở ngoài hành lang, còn nhà xí thì tập thể. Lần này về Hà Nội thì mọi chuyện khác hẳn. Nhiều người bà con của tôi đã "lên lầu" theo cả nghĩa bóng và nghĩa đen. Tiền bạc chẳng biết từ đâu nhưng nhiều người đã xây nhà mới ba hay bốn tầng, hay biến căn nhà cũ thành ba hay bốn tầng. Vì phần lớn các anh chị em của ba má tôi đều đã qua đời nên tôi đã được mời lên thắp nhang viếng các cụ trên bàn thờ đặt ở tầng cao nhất (lầu ba hay lầu bốn). Trong những gia đình tôi đến thăm, bàn thờ bây giờ to tát hơn nhiều so với trước kia, không những về diện tích mà còn về các trang hoàng và trưng bày. Điều đầu tiên là không còn có hình "bác Hồ" trong bất cứ một gia đình nào tôi đến thăm. Thứ hai, là bàn thờ nào cũng có nhang nến đầy đủ, mà còn rất to, cây nhang to và dài hơn gấp nhiều lần nhang thường dùng trong các gia đình người Việt ở Mỹ, tàn nhang cuốn vòng tạo một khung cảnh đầy tín ngưỡng. Trên bàn thờ còn có đầy đủ bánh trái, rượu và trà. Trong một buổi chiều tôi đi thăm bốn nhà, ở mỗi nhà leo bốn tấng cầu thang, rụng rời cả chân, ngắm nhìn bốn cái bàn thờ to tát tương tự như nhau, và lòng thắc mắc không hiểu sao lại có sự "chuyển biến" như thế. Đi thăm những gia đình không khá giả mấy, thấy nhà nào cũng có một bàn thờ hương khói nghi ngút. Một hôm, tôi đi bộ qua khu chùa Quán Sứ. Chỉ là ngày thường mà từ xa gần một dãy phố tôi đã nghe tiếng ồn ào lẫn tiếng tụng kinh vang ra. Trước cửa chùa thì đầy những chổ bày bán nhang đèn và hàng mã, trong đó có rất nhiều thứ giấy tiền, kể cả hình tờ 100 đô la.

Tôi về Việt Nam lần này là do người nhà thúc dục về thăm mộ tổ tiên và viếng từ đường ở nhà quê. Trong lúc ngồi xe trên đường về quê, người nhà râm ran nói đủ thứ chuyện trong đó có chuyện đi chuà. Một bà chị, có chồng vốn là chánh án toà án nhân dân tối cao nhưng đã quá cố, mỗi ngày chăm chỉ tụng kinh hai tiếng buổi sáng. Một bà chị khác cứ hai ngày một lần lại đi chùa và ăn cơm ở chùa. Tôi tò mò hỏi cái gì khiến chị siêng kinh kệ chùa chiền thế. Câu trả lời là đi chùa cho "nó đỡ căng thẳng," gặp nhiều điều bực bội, phiền toái trong cuôc sống, từ nhà cửa, gia đình, xã hội, mà không đến chùa hay tìm sự bình yên trong tiếng kinh tiếng kệ thì sợ có ngày sẽ bị "tai biến" (mạch máu). Một bà chị khác thì nói chị tụng kinh để cầu xin trời Phật phù hộ mọi điều tốt lành cho gia đình và con cháu. Cũng mấy bà chị này khi đi qua lăng bác Hồ trước khi ra khỏi Hà Nội còn nhắc tôi đi thăm lăng "Bác".

Khi ra thăm mộ các cụ tổ, người nhà mang theo đầy đủ các thứ lễ vật, hương nến, và đặc biệt là các bó giấy tiền, trong đó có cả một bó giấy tiền 100 đô la. Khi tôi nói đùa là các cụ ở dưới ấy đâu có tiêu tiền đô thì người nhà cũng cười nói là để các cụ mua vé máy bay đi thăm con cháu bên Mỹ.

Sự phát triển các sinh hoạt tâm linh trong một khung cảnh xã hội có nhiều tiêu cực về kinh tế, chính trị, và xã hội chắc cũng mang một "sứ mạng" gì đó trong việc gìn giữ chế độ. Các đấng tối cao vô hình từ nay sẽ thay thế đảng và nhà nước để chiụ trách nhiệm về các sự thất bại hay đau khổ mà cá nhân gặp phải trong cuộc sống. Dân càng tin vào các đấng tối cao, lãnh đạo càng có cơ hội lẩn trách được trách nhiệm về hạnh phúc (hay bất hạnh) của người dân. Phát triển chùa chiền, đình miếu giúp tăng số tiền cúng dường mà còn được tiếng là tự do tôn giáo. Thật là nhất cử tam tứ tiện. Ai dám nói Đảng TA ngu?

Theo Dân Luận
Read more…

Khai phá văn minh là nhiệm vụ của tầng lớp trí thức trung lưu

01:59 |
Fukuzawa Yukichi

Văn minh của một quốc gia, không phải do chính phủ sáng tạo từ trên xuống và cũng không phải do thường dân làm được từ dưới đưa lên. Văn minh của một quốc gia phải do tầng lớp giữa - giai cấp trung lưu - có tri thức, kiến thức, động não trước thời cuộc, suy nghĩ hợp lòng dân thực hiện. Có như vậy mới mong thành công.

Lịch sử của các quốc gia Tây Âu cho thấy sự phát triển công thương nghiệp ở các nước này không phải do chính phủ tạo ra. Mà tất cả đều là thành quả được sinh ra từ sự lao tâm khổ tứ, từ qua trình lao động trí óc cật lực, từ quá trình nghiên cứu tìm tòi đầy gian nan vất vả của các học giả thuộc giai cấp trung lưu.

Đầu máy hơi nước là phát minh của Watt. Đường sắt là thành quả công phu của Stevenson. Người nghiên cứu và tìm ra nguyên lý khinh tế là Adam Smith. Họ đều thuộc tầng lớp giữa, không phải bộ trưởng trong nội các chính phủ và cũng không phải là công nhân trực tiếp sản xuất. Họ thuộc giai cấp trung lưu, có tri thức, tìm tòi nghiên cứu, nhờ đó mà làm thay đổi bộ mặt xã hội.

Để mọi cá nhân có thể nghiên cứu, phát minh và ứng dụng kết quả rộng rãi trong xã hội, giúp ích cho cuộc sống thì cần phải tổ chức các công ty, phải khởi nghiệp trong khu vực tư nhân. Bảo hộ và tạo mọi điều kiện cho các công ty tư nhân phát triển là nhiệm vụ và trách nhiệm của chính phủ. Khai phá văn minh là công việc của khu vực tư nhân, bảo hộ là công việc của chính phủ. Có như thế thì mọi người dân mới không dửng dưng, mới tự hào "công cuộc văn minh hoá" là công cuộc của chính họ, chứ không phải là vật sở hữu riêng của chính phủ. Có như thế thì nhân dân mới vui sướng đồng cảm với mọi phát minh sáng chế trên đất nước mình và càng muốn đồng lòng hợp sức sao cho mình không thua kém phương Tây. Chỉ có như vậy văn minh mới làm tăng chí khí của dân, mới trở thành sức mạnh hậu thuẫn cho nền độc lập của đất nước.

Thử nhìn vào công cuộc văn minh đang diễn ra trên đất nước ta mà xem, tôi chỉ có thể nói rằng chúng ta đang làm ngược với quy luật.

Ở nước Nhật chúng ta hiện nay, người chủ trương thúc đẩy văn minh, gìn giữ độc lập trước áp lực phương Tây là những người thuộc tầng lớp giữa trong xã hội, là các nhà trí thức và đơn độc chỉ có họ. Nhưng số đó cũng chỉ là thiểu số ít ỏi. Còn đa phần các trí thức đều thiếu con mắt nhận biết thời cuộc. Họ yêu quý và lo giữ chỗ cho bản thân hơn là lo lắng, ưu tư cho đất nước. Đối với họ, gió chiều nào theo chiều ấy. Đa số các trí thức kiểu này luôn rình rập tìm kiếm lợi ích trước mắt, săn đón cơ hội leo vào hàng "quan chức", sa vào các chức vụ quản lý vặt vãnh, tiêu phí thời gian bằng những việc vô bổ, xa rời công việc nghiên cứu, học thuật. Họ thoả mãn với quyền cao bổng hậu. Tệ hại hơn nữa, họ lại tự cao tự đại: "Uyên bác như chúng tôi đã tập trung hết trong hàng ngũ chính quyền rồi, trong xã hội đâu còn ai?".

Tôi buộc phải nói rằng những ngươi trí thức như vậy là nỗi bất hạnh cho công cuộc văn minh đất nước. Lẽ ra phải đảm nhiệm vai trò mở mang, nuôi dưỡng văn minh với tư cách của người trí thức, thì họ lại vùi đầu vào việc kiếm lợi cho bản thân, họ chẳng bận tâm đến sự thoái hoá của tinh thần học vấn trong xã hội, đất nước ra sao họ cũng mặc. Như thế mà vẫn tự cho mình là trí thức được sao?

Đó là một thực tế đáng hổ thẹn.

May sao, trường tư thục Keio của chúng ta không có ai chạy theo trào lưu đang thịnh hành nói trên. Kể từ khi sáng lập, dù đơn độc nhưng trường chúng ta chưa bao giờ đánh mất niềm tự hào, dù phải "đơn thương độc mã" trong xã hội hiện tại, chúng ta đã, đang và vẫn tiếp tục vun xới, nuôi dưỡng tinh thần độc lập. Chúng ta chỉ có một mục đích gánh vai nâng đỡ tinh thần độc lập trong nhân dân.

Chúng ta lẻ loi, đang đứng mũi chịu sào trong cơn cuồng phong, trong dòng nước chảy xiết, chúng ta đang phải gồng mình chống chọi với cả một trào lưu đang làm thoái hoá xã hội. Nhiệm vụ của chúng ta thật khó khăn. Nhưng chính lúc này đòi hỏi chúng ta phải có lòng quả cảm và tinh thần cương quyết.

Dũng khí của con người không sinh ra từ sách vở.

Đọc sách là phương tiện nâng cao học vấn.

Học vấn là phương pháp tiến tới thực tiễn. Chính kinh nghiệm, sự từng trải sản sinh ra lòng quả cảm.

Hội Keio chúng ta, bất chấp khó khăn, bất chấp gian khổ, nguyện đem hết tri thức kiến thức có được, xây đắp con đường phát triển văn minh. Để đi tới đó, chúng ta không phân biệt, không từ nan bất kỳ lĩnh vực nào, ngành học nào. Chúng ta làm thương nghiệp, chúng ta tranh luận luật pháp, chấn hưng công nghiệp, khuyến nông, viết sách, dịch sách, phát hành báo, tất cả những gì liên quan tới văn minh.

Mỗi người chúng ta phải suy nghĩ về vai trò, sự đóng góp của bản thân, phải đi tiên phong trong nhân dân. Chúng ta cùng hợp tác với chính phủ.

Sức dân và sức chính quyền có cân bằng thì tiềm lực quốc gia mới gia tăng, nền móng độc lập của quốc gia mới vững chắc, có như vậy nước ta mới mong được bình đẳng với phương Tây.

Tôi tin rằng, vài mươi năm sau, cũng trong một dịp đón mừng năm mới, khi nhắc tới buổi sum họp hôm nay, chúng ta chắc sẽ cùng nói với nhau rằng: "Mới chỉ có nền độc lập mong manh như hồi đó mà chúng ta sung sướng đến vậy. Bây giờ đã sánh vai bình đẳng thực sự với phương Tây như thế này thì còn sung sướng đến nhường nào?". Như thế mới là niềm vui thực sự phải không các bạn

Tôi muốn nói với các bạn truớc khi cho phép tôi kết thúc.

Các bạn sinh viên. Các bạn hãy tự quyết định tương lai, chí hướng của chính mình theo mục đích của trường tư thục chúng ta ngay từ hôm nay, ngày đón năm mới này

Tháng giêng năm Minh Trị thứ bẩy (tức năm 1874)

Nguồn: Tác phẩm Khuyến Học
Tác giả: Fukuzawa Yukichi
Người dịch: Phạm Hữu Lợi – Nhà XB Trẻ

Theo Facebook
Read more…

“Giờ thứ 25″ hay là hội chứng tôn vinh thơ dở của Hội Nhà văn Việt Nam

13:46 |
Trần Mạnh Hảo

Trên trang blog của nhà văn Nguyễn Tường Thụy, ngày 17-01-2013, nhà phê bình văn học Nguyễn Hoàng Đức trong bài: “Thư ngỏ gửi Hội nhà văn về giải thơ năm 2012” nói về sự đạo văn trắng trợn của nhà thơ Phạm Đương, tác giả tập thơ được giải thưởng Hội nhà văn Việt Nam 2012: “Giờ thứ 25”, có viết như sau:
“Tôi chính thức muốn nói cùng các vị: Giờ thứ hai mươi lăm” của nhà văn Roumanie Constantin Virgil Gheorghiu, có trước cách đây nhiều thập kỷ. Tên sách là một thương hiệu tổng quát không thể bị đánh cắp một cách “trọn gói” như vậy. Thời buổi này, người ta cấp bằng sở hữu tên gọi, ngay cả hai cửa hàng cũng không có quyền mang tên giống nhau, nói gì hai tác phẩm?! Việc Hội Nhà văn trao giải cho tên gọi tập thơ này đủ thấy trình độ của các vị rất ấu trĩ, không chịu đọc sách gì cả, giống như sự ấu trĩ mới đây các vị đã giành cho Hoàng Quang Thuận với tập thơ thiền bịp thần bịp thánh. Tôi đề nghị phế truất giải thưởng của tập thơ này. Lý do, chúng ta không thể đạo văn vô văn hóa trắng trợn như vậy được. Nhà văn, nhà thơ phải là người có văn hóa và liêm sỉ.”
Nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo, một người xưa nay vốn có cảm tình với tác giả Phạm Đương, có vẻ cũng đồng tình với lời phản đối trên đây của anh Nguyễn Hoàng Đức:
Nguyễn Trọng Tạo: Có người tiếc cho Phạm Đương đã “cóp” tên cuốn tiểu thuyết nổi tiếng “Giờ thứ 25” (The 25th hour) của nhà văn Roumanie Constantin Virgil Gheorghiu để đặt tên cho tập thơ đoạt giải thưởng Hội Nhà Văn 2012 vừa được công bố. Tôi cũng nghĩ thế, vì đó là một ý tưởng độc đáo của… người khác.”
Giờ thứ hai mươi lăm”. Photo VAOL file

Tại sao ban sơ khảo của giải thưởng này toàn những nhà thơ nổi tiếng, và ban chung khảo gồm các nhà văn nhà thơ nổi tiếng hơn, chẳng lẽ chưa ai từng đọc một tác phẩm vào hàng kiệt tác thế giới: “Giờ thứ 25” của văn hào Rumania – một linh mục Chính thống giáo tên là C. Gheorghiu? Đây là cuốn tiểu thuyết có một tên gọi độc đáo nhất thế giới, không dễ có một ai chưa từng nghe tên cuốn sách này mà có thể sáng tạo ra tên gọi: “Giờ thứ 25”.

Có người tò mò hỏi chúng tôi: hay là ông chủ tịch Hội nhà văn Việt Nam, người đang mang cái án đạo thơ nổi tiếng nhất xưa nay, coi việc đạo văn đạo thơ là một thành tích, nên khuyến khích xu hướng đạo…này chăng? Có người lại cho rằng, có thể ông chủ tịch muốn chơi khăm nhà thơ trẻ Phạm Đương, để anh này được giải rồi bị dư luận chê cười đạo tên sách, đặng chia lửa với ông, chứ cứ để mình ông mang tội đạo thơ nghe nó cô đơn lắm…

Cứ đà này, vài ba năm tới, các nhà thơ trẻ lại chả thi nhau đạo tên các tác phẩm nổi tiếng thế giới làm tên trường ca của mình, mong giật giải thưởng Hội nhà văn Việt Nam. Biết đâu, từ hiện tượng đạo tên sách nổi tiếng: “Giờ thứ 25” này, các trường ca nhái tên sách như: “Người thứ 41”, “Trăm năm cô đơn”, “Những người khốn khổ”, “Chiến tranh và hòa bình”, “Ông già và biển cả” …sẽ ra đời để tiếp nối truyền thống đạo …của ngài chủ tịch Hội nhà văn Việt Nam…Riết rồi, sẽ có một nền văn học ăn cắp ra đời làm rạng rỡ một dân tộc đang bị thế giới khinh như mẻ này hay sao?

Năm ngoái, Hội nhà văn Việt Nam đã tôn vinh ba tập thơ dở nhất nước, bằng việc tặng cho chúng ba giải thưởng lớn, gồm: “Bầu trời không mái che” (Mai Văn Phấn, NXB Hội Nhà Văn), “Hoan ca” (Ðỗ Doãn Phương, NXB Hội Nhà Văn), “Ngày linh hương nở sáng” (Ðinh Thị Như Thúy, NXB Hội Nhà Văn).

Đến nỗi, trong lễ trao giải thưởng văn học của Hội nhà văn Việt Nam (HNVVN) năm nay, ngày 29-01-2013, ông Hữu Thỉnh cũng phải công nhận giải thưởng thơ năm ngoái “Chỉ có cách tân mà không có dân tộc”, tức là ông phủ nhận giải thưởng thơ năm ngoái là một giải thưởng mà HNVVN TÔN VINH CÁC TẬP THƠ DỞ…

Xin xem danh sách các tên tuổi bị bệnh mù thơ, chỉ cần sờ con voi thơ, hô biến, để biến thơ dở thành thơ hay một cách hết sức vô trách nhiệm:

DANH SÁCH 8/9 THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG THƠ LÀM NHIỆM VỤ SƠ KHẢO:

1)- Nhà thơ BẰNG VIỆT
2)- Nhà thơ NGÔ THẾ OANH
3)- Nhà thơ INRASARA
4)- Nhà thơ ĐẶNG HUY GIANG
5)- Nhà thơ TRƯƠNG NAM HƯƠNG
6)- Nhà thơ THI HOÀNG
7)- Nhà thơ TUYẾT NGA
8)- Nhà thơ TRẦN QUANG QUÝ (không tham gia bỏ phiếu vì có tác phẩm dự giải)
9)- Nhà thơ NGUYỄN KHẮC THẠCH
HỘI ĐỒNG CHUNG KHẢO:

1. DANH SÁCH 9 ỦY VIÊN BAN CHẤP HÀNH LÀM NHIỆM VỤ CHUNG KHẢO NĂM 2012:

1)- Nhà thơ Hữu Thỉnh
2)- Nhà văn Nguyễn Trí Huân
3)- Nhà LLPB Lê Quang Trang
4)- Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều
5)- Nhà LLPB Phan Trọng Thưởng
6)- Nhà văn Đào Thắng
7)- Nhà văn Đình Kính
8)- Nhà thơ Văn Công Hùng
9)- Nhà văn Vũ Hồng

Thưa ông Hữu Thỉnh, năm nay, giải thưởng thơ của các ông còn dở hơn giải thưởng thơ năm ngoái bội phần. Xin xem nhà thơ Nguyễn Quang Thiều, phó chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam, kiêm chủ soái trường thơ Tân con cóc, ca ngợi “Giờ thứ 25” một cách vô lối, trơ trẽn, bịa đặt, vu vơ, ngớ ngẩn như sau:
“Giờ thứ 25 của nhà thơ Phạm Đương đặt chúng ta đứng vào giữa những hiện thực đời thường bề bộn, thô nháp và đầy thách thức của đời sống mà chúng ta đang sống. Và từ hiện thực đó mà đôi khi là những hiện thực nhỏ bé chúng ta ít để ý và có lúc bước qua, nhà thơ đã khám phá ra vẻ đẹp cho dù đôi khi nó thật mong manh. Giờ thứ 25 là văn bản của những ngôn từ giản dị, trực diện, da diết và trắc ẩn, với kết cấu chặt chẽ và sự triển khai mạch lạc của mỗi đơn vị bài thơ cùng với sự dồn nén tối đa của cảm xúc đã tạo ra nhiều bất ngờ và đôi khi như một sự bùng nổ.”
Chúng tôi muốn nói về một tập thơ đại dở, đại nhảm nhí là tập thơ: “Giờ thứ 25” làm xấu hổ tên kiệt tác văn xuôi mà nó ăn cắp.

Xin các vị đọc một số bài thơ của tập thơ Phạm Đương, trích trong “Giờ thứ 25”, xem nó có thơ ở chỗ nào hay chỉ là một thứ văn nói năng xuống dòng gọi là tấu, lảm nhảm, vô duyên, gượng ép, dông dài, lăng nhăng, miên man khôn xiết kể:

“BIỆN HỘ CHO NHỮNG GIẤC MƠ KHÔNG CÓ THẬT

1.
Có chiếc răng trắng khác thường trên hàm răng
là chiếc răng giả
mơ một hàm răng thật trắng
nhưng không phải răng giả
kem đánh răng Hynos quảng cáo cả trong giấc mơ
răng trắng-không giả-kem Hynos
vừa đánh răng vừa huýt sáo
đó không phải là giấc mơ của những anh chàng Sơn Đông mãi võ
đánh răng giả vừa huýt sáo thật
lẩn thẩn với những chiếc răng
tôi tự làm nghèo giấc mơ của mình

2.
Sáng nay nghe một chuyện không vui không buồn
người đàn bà sáu mươi tuổi bất ngờ gặp lại người tình cũ
trong trại an dưỡng thương binh nặng
một gã du kích cách đây đã bốn mươi mốt năm
bà thì nhận ra ngay còn ông thì lơ đễnh như kẻ xa lạ
theo ký ức mù sương của bà thì họ đã một lần hôn nhau
nhưng không dám bước qua lằn ranh ám ảnh về những cuộc kiểm điểm liên miên thời chiến
quan hệ bất chính là cụm từ đã giết chết bao giấc mơ thiếu nữ
trong đáy thẳm gã du kích năm xưa
người ấy luôn luôn mười chín tuổi
trinh trắng hơn mọi sự trinh trắng nếu như nụ hôn không bị khép vào tội bất chính
làm sao quay ngược được kim đồng hồ thời gian
để xé tan tành những cuộc họp vô bổ
nhưng biết làm sao được
những giọt nước mắt lặng lẽ chảy dọc theo chiều dài bốn mươi mốt năm
giấc mơ được thoải mái ôm nhau ngày hòa bình
đã vĩnh viễn gửi lại cánh rừng mười chín tuổi
đó là giấc mơ nặng nhọc nhất mà cả hai phải gồng gánh suốt chặng đường còn lại

3.
Con được vào đại học là giấc mơ của tất cả các bậc cha mẹ
dù chúng vẫn thích chơi điện tử hơn là học chữ
“mày không đỗ thì mày chết với tao
còn tao sẽ chết nếu như mày đỗ!”
chín mươi phần trăm dân số là nông dân
luôn luôn đọc câu kinh trên đây trước ngày tiễn con ra trận
con thi đỗ thì cha sẽ chết
nhưng thà chết như thế may ra còn được sống
nuôi giấc mơ được cày ải trên cánh đồng chữ
vẫn dễ chịu hơn là cày trên mảnh ruộng đầy hóa chất và thuốc trừ sâu
cày trên đất cằn khô được bón phân đểu
hàng triệu đứa trẻ nông thôn luôn nuôi giấc mơ không có thật
bằng những phép màu rạ rơm
tôi từng mơ như các em
bằng giấc mơ bo bo mì lát
nào hãy mơ đi các bạn
đừng sợ
không ai đánh thuế giấc mơ bao giờ!

4.
Ngày lập hạ
ba mươi chín độ năm chưa phải là con số cuối cùng mùa nắng nóng
tôi nuôi giấc mơ Đà Lạt, Sa pa chạy dọc miền Trung
bất ngờ điện cúp không báo trước
mồ hôi trộn với cơn mơ
mang hình chiếc tủ kem ngày không có điện
lập hạ 2007

BIÊN TẬP

hình như là thừa một câu
“anh yêu em”
anh nghĩ, chiếc gối ngủ chiếc mền ngủ chiếc đèn thức
đã mòn nhẵn mồ hôi sau hai mươi năm giường chiếu
thì nói câu ấy làm gì
và anh đọc lại
rồi cắt!
hình như là thừa bó hoa
nhân ngày sinh nhật
em đợi mòn mắt
anh nghĩ, hai mươi năm mặt tối mày tắt
gạo đong từng bữa mắm tính từng hào
anh quen mua rau chứ mấy khi mua hoa
hoa chi cho thừa
và anh tự cắt!
hình như là thừa một điều gì đó
một chút quan tâm
ánh nhìn âu yếm
một lời hỏi han
nửa câu thề hẹn
anh nghĩ, những điều ấy thuở hai mươi năm trước thì được
còn bây giờ tất tật đều thừa
cắt!
rồi một ngày em gom hết lại
hoa tươi với yêu thương
mắm muối và chiếu giường
hỏi han và thề hẹn
những gì anh cắt
những gì anh vất vào sọt rác
em restore
lập tức
anh bị đuổi khỏi chân biên tập!

ĐÁM ĐÔNG CÓ LÚC

có lúc
anh giơ tay theo đám đông
mà không cần hiểu
nhất trí trăm phần trăm
sau cú giật mình
không giống một hai ba dzô trăm phần trăm
đám đông ồn ào đám đông to tiếng
đám đông lờ đờ đám đông chết lặng
lúc nào cũng được nhân danh
anh thành kẻ a dua
anh thành kẻ té nước theo mưa
anh thành người khác
có ai ý kiến gì không?
không!
nhất trí trăm phần trăm
cạn ly nhất trí
bao năm anh lẫn vào đám đông
lúc nào cũng sợ mà không biết mình sợ điều gì
sợ cả sự lặng thinh lẫn những nơi to tiếng
rồi một ngày
anh thành đám đông lúc nào không hay
một cánh tay chai sần một cánh tay tê liệt
sau bao lần nhất trí
nhất trí thứ gì
không biết!”
(hết trích thơ Phạm Đương)

Nếu các vị hội đồng thơ, các vị Chủ khảo giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam tìm thấy các đoạn lảm nhảm hết sức dông dài, nói vớ vẩn linh tinh lang tang trên thơ ở chỗ nào, câu nào là thơ, tứ nào là thơ, người viết bài này sẽ chết liền à!

Xin các vị độc giả chịu khó đọc nốt bài thơ mang tên của tập thơ, bài “Giờ thứ 25” xem nó là thơ hay là thứ bá láp gì:

“GIỜ THỨ HAI LĂM
Bỏ lại mọi toan tính phía sau lưng
Anh có giờ thứ hai lăm khuya khoắt
Giờ thứ hai lăm ngọt nhạt
Giờ thứ hai nhăm bồn chồn
Hai mươi bốn giờ đi qua nhìn anh bằng đôi mắt khác
Một tên khùng trong bóng đêm
Một gã rồ trước nến
Viết thứ gì mà đêm nào cũng như ngồi thiền ?
Chuyện gì mà mặt khô đăm đăm
Chỉ có giờ hai lăm hiểu anh
Vì sao mặt khó đăm đăm
Vì sao ngồi thiền góc khuất
Vì sao lúc thiên hạ cười vui thì anh ủ dột
Vì sao em không có mặt
Trong giờ thứ hai lăm mỗi ngày
Anh chẳng đem lại gì cho em
Trong giờ thứ hai lăm khuya khoắt
Ngoài những câu thơ như khói thuốc
Những câu thơ không nhiễm độc bao giờ…”

Chao, cái gọi là thơ của cả tập “Giờ thứ 25” mới dừng lại ở thể nói, thể tấu, tuyệt nhiên không phải là thơ: phi hình ảnh, phi hình tượng, phi cảm xúc, phi khái quát, phi tư tưởng, phi nội hàm, phi ý tứ, phi hàm súc, cứ lấc cấc, nhâng nhâng nói toẹt ra mọi sự chẳng cần hàm xúc, dư ba...

Phạm Đương mới dừng lại ở ý tưởng, ở các câu nói rời, lảm nhảm, dông dài, linh tinh, vớ vẩn, năng xuống dòng. Nó (thơ P. Đ.) như một thứ bản nháp mà ông vua lảm nhảm là Thanh Thảo vất đi, chợt Phạm Đương nhặt được đem in để lĩnh giải, theo tác giả Vũ Trường Giang trên VC + cho biết:
“Nhưng Thanh Thảo cũng khoái cái ý rằng mình làm thơ, bài nào được ký tên Thanh Thảo, bài nào dở vất bố thí công chú em Phạm Đương cúc cung tận tụy cho nó nếm chút danh trên văn đàn. Dân Quảng Ngãi rỉ tai Phạm Đương là phó bản Thanh Thảo, Thanh Thảo 2, á Thanh Thảo là từ giai thoại này mà ra!”
Nếu thơ như một nàng xinh đẹp thì tập thơ này của Phạm Đương mới là nàng thơ ở dạng xương cốt của một con ma. Nàng thơ “ Giờ thứ 25” than ôi, mới chỉ có bộ xương chưa có da thịt…Nó cần phải đưa vào bảo tàng để làm công cụ nhát ma con nít.

Trao giải thưởng cho thứ thơ kinh hãi này là một cách để Hội nhà văn VN tuyên bố xử bắn cả nền thơ quốc doanh vậy..,.

Sài Gòn ngày 6-02-2013
© Trần Mạnh Hảo
Read more…

Vị GS đã ăn thịt gì trước khi “ném đá” nền văn hóa Việt?

05:56 |
Đào Tuấn

Người Việt không hề quá khích, không hề thích gây hấn nhưng rất sẵn lòng cho vị GS lừng danh về nói bậy của ĐH Stanford “đi gặp nha sĩ”.

“Bạn không cần dành quá nhiều thời gian ở Việt Nam trước khi bạn nhận ra một số thứ bất thường. Không một con chim nào hót, không một con sóc nào trèo trên cây hay con chuột nào chạy nhốn nháo giữa đống rác. Không một con chó nào đi dạo. …Thực ra bạn hầu như sẽ không thấy động vật hoang dại hay các vật nuôi đâu. Chúng đi đâu hết? Có lẽ bạn sẽ ngạc nhiên khi biết: bọn chúng bị thịt hết rồi”.

Đây là đoạn mở đầu của một bài báo đăng trên Chicago Tribune hôm 3.2. Tác giả của nó, thật ngạc nhiên, là một giáo sư ĐH Stanford, một nhà báo lừng danh thuộc diện “cây đa cây đề” từng giành giải Pulitzer. Và cũng cần phải nói thêm một thông tin bối cảnh khác là bài báo được viết sau “chuyến đi 10 ngày tới Việt Nam” của vị GS nọ.

Cái khẩu phàm của người Việt quả thực “danh bất hư truyền”. Bộ sưu tập “hải-lục-không quân”. Chim, chuột, rắn rết, sâu bọ, dơi cóc. Người Việt ăn tất những gì ngọ ngoạy, trừ lá ngón.
Của ăn đã là một thứ tàn sát. Cách ăn còn kinh khủng hơn khi không ít những người Việt nuông chiều cái khẩu phàm bằng cách “ăn gỏi” trên sự đau đớn của những loài sinh vật. Cách ăn đó gọi là gì nếu không phải là man rợ?!

Hồi giữa năm ngoái, Gordon Ramsay, vua bếp Anh Quốc, người từng được Nữ Hoàng Anh phong tước hiệp sĩ và là người Scotland đầu tiên nhận 3 ngôi sao Michelin - từng đến Việt Nam trong show truyền hình mang tên Gordon’s Great Sscape, nói về những trải nghiệm tuyệt vời của ông trên hành trình khám phá ẩm thực của các nước trên thế giới. Khi được mời thưởng thức món khai vị “rượu tim rắn”, Gordon Ramsay tận mắt những đầu bếp người Việt lấy tim con rắn như thế nào và ông thể hiện rõ vẻ hoảng sợ. “Ông có ổn không?”- một người bạn nhìn thấy sự bất bình thường đã hỏi ông. “Tôi ổn. Giờ thì không thể rút lui được nữa rồi”- Ramsay nói. Gương mặt của Ramsay sau đó gần như biến sắc hoàn toàn trước ly rượu chứa trái tim rắn còn chưa ngừng đập. Và sau đó, với vẻ mặt như đang uống thuốc độc, vị “Vua bếp” nổi tiếng thế giới… nhắm mắt.

Có một hình ảnh đáng nhớ, kiểu “chỉ có ở Việt Nam” là chiếc xe máy bị đốt cháy đen treo trên cột điện ở một vùng quê nào đó với lời cảnh cáo: “Xe máy của những kẻ trộm chó”. Cho thêm vào sự tàn tạo, và mông muội, là không thiếu những cái xác kẻ trộm bị đập chết, bị thui đen. Người ta có thể ăn tất, và đập chết đồng loại nhiều khi chỉ để bảo vệ thứ chỉ dành để ăn.

Câu chuyện của một người nước ngoài, một Giáo sư đại học, một tác giả giành giải Pulizer, vì thế, dù phiến diện, cũng là một cái nhìn cần thiết, để ít nhất, những người Việt chúng ta giật mình mỗi độ chọn…kem đánh răng.

Chỉ có điều, nói gì thì nói, người ta không thể dùng “cái ăn” để “tấn công trực diện vào nền văn hóa” của một dân tộc. Bởi thước đo văn hóa là chẳng có thước đo nào cả.

Câu chuyện “tấn công trực diện vào nền văn hóa” đến từ đoạn sau của bài báo. Vị “GS Pulizer” viết: “Việt Nam thường được biết đến như là một quốc gia thích gây hấn. Đã có 17 cuộc chiến tranh xảy ra với Trung Quốc từ sau khi giành độc lập hơn 1.000 năm về trước, và quốc gia này cũng xâm lược Cambodia rất nhiều lần, lần gần đây nhất là năm 1979. …Tôi cho rằng bởi vì người Việt Nam thường xuyên ăn thịt, bổ sung một nguồn đáng kể protein vào bữa ăn hàng ngày, điều đó giải thích tại sao quốc gia này hung hăng, thích gây hấn đến vậy và đó là sự đối lập rõ nhất so với các nước láng giềng của quốc gia này”.

Logic của bài viết, một cuộc tấn công với tinh thần miệt thị nhằm mục đích miệt thị, “tàn sát” nền văn hóa, là rất rõ ràng: Người Việt phàm ăn, đặc biệt các loại động vật chứa “đáng kể protein”, và việc phàm ăn, do đó sinh ra tính cách hung hăng, thích gây hấn.

Không hiểu vị GS đã ăn thịt gì trước khi đặt bút viết bài báo. Heo chăng?

Theo blog Đào Tuấn
Read more…

Nhật Bản: Những phẩm chất Trời cho, có lẽ muốn học cũng không được

03:25 |

Cúi nhưng không thấp

Người Nhật có thói quen gập hơn nửa người cúi chào khách.

Cái nghiêng mình quen thuộc khi người Nhật chào khách.

Ở đất nước mặt trời mọc, hình ảnh nghiêng gập người cúi chào thể hiện cả một nền văn hóa Nhật Bản: Cúi nhưng không hạ mình. Sự nhún nhường chỉ làm tăng thêm sự nể trọng của người đối diện.

Trên các chuyến bay của hãng hàng không Japan Airlines, nụ cười luôn nở trên môi các tiếp viên. Họ sẵn sàng ngồi, chính xác là “quỳ xuống”, giúp khách sửa tư thế của đôi chân tê mỏi.

Họ niềm nở, vui vẻ tiếp nhận yêu cầu của hành khách khó tính nhất. Không phải phẩm chất máy bay khiến hành khách hài lòng mà chính cách phục vụ của tiếp viên khiến mọi người nghĩ tốt về người Nhật. Chỉ vài phút khởi hành trễ, toàn bộ nhân viên phục vụ mặt đất và tiếp viên, phi công dàn thành hàng ngang, cúi rạp người xin lỗi khách.

Họ thật sự đã thành công khi để lại ấn tượng sâu sắc về một nước Nhật vô cùng hiếu khách và nghệ thuật giao tiếp tuyệt vời.


Trung thực

Ở Nhật, bạn khó có cơ hội bắt taxi để đi một cuốc đường dài. Vì sao? Các tài xế sẽ tự chở bạn thẳng đến nhà ga tàu điện ngầm, kèm lời hướng dẫn “Hãy đi tàu điện ngầm cho rẻ”.

Sự trung thực của người Nhật in đậm nét ở những “mini shop không người bán” tại Osaka.

Hệ thống tự tính tiền tại siêu thị Nhật, người mua tự phục vụ, tự scan mã vạch, tự trả tiền.

Nhiều vùng ở Nhật không có nông dân. Ban ngày họ vẫn đến công sở, ngoài giờ làm họ trồng trọt thêm. Sau khi thu hoạch, họ đóng gói sản phẩm, dán giá và để thùng tiền bên cạnh cho người mua cứ theo giá niêm yết mà tự bỏ tiền vào thùng. Cuối ngày, trên đường đi làm về, họ ghé đem thùng tiền về nhà. Nhẹ nhàng và đơn giản.

Các con đường mua sắm, các đại siêu thị ở Hokkaido, Sapporo hay Osaka… cũng không nơi nào bạn phải gửi giỏ/túi xách. Quầy thanh toán cũng không đặt ngay cổng ra vào. Người Nhật tự hào khẳng định động từ “ăn cắp vặt” gần như đã biến mất trong từ điển.

Nếu bạn đến Nhật, toàn bộ các cửa hàng sẽ tự động trừ thuế, giảm 5 – 10% khi biết bạn là khách nước ngoài.

Không cần gửi giỏ xách khi đi siêu thị

“No noise” – không ồn

Nguyên tắc không gây tiếng ồn được áp dụng triệt để tại Nhật. Tất cả đường cao tốc đều phải xây dựng hàng rào cách âm, để nhà dân không bị ảnh hưởng bởi xe lưu thông trên đường. Osaka bỏ ra 18 tỷ USD xây hẳn một hòn đảo nhân tạo để làm phi trường rộng hơn 500ha ngay trên biển. Lý do đơn giản chỉ vì “người dân không chịu nổi tiếng ồn khi máy bay lên xuống”.

Phi trường quốc tế Kansai được xây dựng trên hòn đảo nhân tạo, cách xa khu dân cư.

Tại các cửa hàng mua sắm, dù đang vào mùa quảng cáo, cũng không một cửa hàng nào được đặt máy phát ra tiếng. Tuyệt đối không được bật nhạc làm ồn sang cửa hàng bên cạnh. Muốn quảng cáo và thu hút thì cách duy nhất là thuê một nhân viên dùng loa tay, quảng cáo với từng khách.

Nhân bản


Vì sao trên những cánh đồng ở Nhật luôn còn một góc nguyên, không thu hoạch? Không ai bảo ai, những nông dân Nhật không bao giờ gặt hái toàn bộ nông sản mà họ luôn “để phần” 5-10% sản lượng cho các loài chim, thú trong tự nhiên.

Bình đẳng

Mọi đứa trẻ đều được dạy về sự bình đẳng.

Để không có tình trạng phân biệt giàu nghèo ngay từ nhỏ, mọi trẻ em đều được khuyến khích đi bộ đến trường. Nếu nhà xa thì xe đưa đón của trường là chọn lựa duy nhất. Các trường không chấp nhận cho phụ huynh đưa con đến lớp bằng xe hơi.

Bình đẳng là điều đầu tiên các em học được ở trường.

Việc mặc đồng phục vest đen từ người quét đường đến tất cả nhân viên, công chức cho thấy một nước Nhật không khoảng cách. Những ngày tuyết phủ trắng nước Nhật, từ trên cao nhìn xuống, những công dân Nhật như những chấm đen nhỏ di chuyển nhanh trên đường. Tất cả họ là một nước Nhật chung ý chí, chung tinh thần lao động.

Văn hóa xếp hàng thấm đẫm vào nếp sinh hoạt hàng ngày của người Nhật. Không có bất cứ sự ưu tiên nào. Sẽ không có gì ngạc nhiên nếu một ngày bạn thấy người xếp hàng ngay sau lưng mình chính là Thủ tướng.

Ở Nhật, nội trợ là một nghề. Hàng tháng chính phủ tự trích lương của chồng đóng thuế cho vợ. Do đó, người phụ nữ ở nhà làm nội trợ nhưng vẫn được hưởng các chế độ y như một người đi làm. Về già vẫn hưởng đầy đủ lương hưu.


Độc đáo hơn nữa là nhiều công ty áp dụng chính sách, lương của chồng sẽ vào thẳng tài khoản của vợ. Vai trò của người phụ nữ trong gia đình vì thế luôn được đề cao, tôn trọng.

*

Ở đất nước mặt trời mọc, mọi người hiểu sâu sắc lý do khiến nước Nhật tan hoang sau chiến tranh thế giới thứ 2, bật dậy mạnh mẽ trở thành cường quốc khiến cả thế giới phải nghiêng mình.

Từ email chuyển tiếp của Hồ Anh Thái
Theo blog Soi
Read more…

TẾT QUÝ TỴ SẮP ĐẾN RỒI EM ƠI TRỞ VỀ ĐI!

13:47 |

Lời Tác Giả: Tôi vừa nhận được lá thư của kỷ sư Nguyễn Ngọc H., một sinh viên cũ của tôi tại Sài Gòn kể về người bạn gái cùng quê Châu Thành, Tây Ninh đã lấy chồng Đài Loan cách đây 7 năm. Bấy lâu nay, anh ta cứ tưởng cô ấy đã được sống trong hạnh phúc với người chồng Đài. Ai ngờ vừa rồi, khi về thăm quê ghé nhà ba má cô bạn gái, anh ta mới được gia đình cho xem bức thư cô ấy vừa gửi về nói rõ tình trạng khốn khổ của cô đã phải chịu đựng người chồng vũ phu tại Đài Loan hơn 7 năm qua. Sau khi được ba má của cô gái xác nhận đó là sự thật, anh ta vô cùng sửng sốt nên đã kể cho tôi câu chuyện này qua lá thư đó. Tôi xin phép được chép bức thư ra thành văn vần và xin được trân trọng gửi tới quí vị độc giả gần xa để mong được sự sẻ chia của quí vị nhân dịp Tết Quý Tỵ.

TẾT QUÝ TỴ SẮP ĐẾN RỒI EM ƠI TRỞ VỀ ĐI!
(Viết theo lá thư của kỷ sư Nguyễn Ngọc H.)

Mỗi lần về Châu Thành anh thương má nhớ em
Má bảo chẳng qua nghèo nên đành phải xa con gái
Rứt ruột đẻ ra ai chẳng muốn được gần con nhờ cậy
Khi trái gió trở trời con gái ghé về thăm

Anh cũng đã trót thương khi em vừa tròn tuổi mười lăm
Nhưng vì nhà anh quá nghèo nên còn chưa dám nói
Em như nụ tầm xuân nơi hương đồng gió nội
Đôi má lúm hồng tươi duyên dáng tựa trăng rằm

Hai mốt tuổi em lấy chồng, anh đang trong quân ngũ
Khi anh ra quân trở về em đã sang tận Đài Loan
Anh đành đi học tiếp để mong trái tim vơi bớt khổ!
Nhiều đêm giữa Sài Gòn chân lạc bước lang thang

Mỗi lần anh về quê, má kể em hạnh phúc
Với người chồng Đài Trung nay đã có con trai
Anh mừng cho em vì nghe nói đã có nhiều cô gái
Lấy chồng Hàn, chồng Đài bị đày đọa giữa trần ai!

Anh đã xem ảnh một cô dâu lấy chồng Hàn bị giết
Khi rời xa Việt Nam vừa tròn tuổi hai mươi[1]
Mới sang Hàn Quốc tám hôm đã bị chồng hãm hại
Hồn phiêu diêu xứ người xót xa lắm em ơi!

Nhiều cô dâu sang Đài Loan sống với chồng như nô lệ
Hầu hạ cha mẹ chồng còn bị chồng đánh suốt ngày
Có chị ở Đào Viên chín năm đã sinh được hai con gái[2]
Bị chồng ném xuống biển khơi vì không có con trai!

Đã hai lần em về thăm quê, ai cũng tưởng em hạnh phúc
Thấy bảo chồng em già nhưng vợ chồng biết thương nhau
Anh tự nhủ may mà em không lấy phải anh nghèo khổ
Thôi nếu chúng mình còn duyên thì xin hẹn kiếp sau!

Nhưng hôm rồi, ba má đã cho anh xem lá thư em vừa gửi
Kể về nỗi thống khổ suốt bảy năm em phải sống bên Đài
Những tưởng lấy được chồng giàu để giúp má tiền trả nợ
Và nuôi ba đứa em thơ nên em đành nghe bà mối làm mai

Bà mối tên Dung là họ hàng đã đưa em ra Sài Gòn gặp gỡ
Người đàn ông Đài Loan hơn em 23 tuổi vẻ hiền khôn
Chưa lấy vợ, không ruợu chè chỉ suốt ngày uống sữa
Tưởng là cơ hội để đổi đời nên đám cưới tổ chức luôn!

Khi đã có bầu em mới biết chồng em là tên nát rượu
Đã từng phải ngồi tù vì ghẹo gái bị thưa
Làm thợ hồ bữa được bữa chăng chưa đủ xài ba bữa
Còn cướp cả tiền của em dành nuôi dưỡng con thơ!

Em không được mẹ chồng thương khi bụng mang dạ chửa
Đêm phải trốn dưới gầm giường, ôi khốn khổ thân em!
Em còn phải đi làm thêm để giúp má tiền trả nợ
Mà còn bị chồng ăn cắp để bao gái qua đêm!

Bảy năm trời em phải cắn răng chịu đựng
Vì sợ má ở nhà quá thương rồi đổ bệnh ốm đau
Nay em đã nói thật để ba má được tỏ tường tất cả
Và ao ước được trở về nhà, thà rau cháo có nhau!

Bởi thương đứa con ngoan sẽ bị bà mẹ chồng bắt lại
Rồi sợ cha nó sẽ làm hư con nên em chưa dám trở về
Đời người con gái Việt Nam thật trầm luân dâu bể
Xưa nội chiến hai mươi năm, nay mậu tử cách chia!

Em ơi!
Con trai em nó ngoan vì “nhân chi sơ tính bản thiện”
Nhưng mai kia lớn lên nó sẽ thành người lính của quân Tàu!
Lại ra đảo Bắc Bình, Trường Sa để moi dầu lấn biển
Rồi còn bắn vào ngư dân mình gây chết chóc thương đau!

Tết Qúy Tỵ sắp đến rồi em ơi trở về đi! Anh vẫn đợi
Thằng bé là nòi giống Hán Hoa từng nô dịch nước ta
Em vấn vương tình mẫu tử vì con trai còn nhỏ tuổi!
Vậy còn tương lai của đời em và tình nghĩa đôi ta?

Hãy khóc to lên em ơi! Nhằm vơi đi khổ tủi
Cho các nàng dâu mai sau nghe mà thấm thía nỗi đau
Của nhiều cô gái quê nghèo đã lỡ làm dâu xa xứ
Để giúp những ai còn mơ màng biết suy nghĩ trước sau!

Hà Nội, 15/1/2013
Ts. Đặng Huy Văn
------------------------------
Tác giả gửi đến VANGANH.INFO

[1] Cô Thạch Thị Hoàng Ngọc, 20 tuổi, lấy một người chồng Hàn Quốc 47 tuổi, đã bị chồng giết chết một cách thê thảm trên vũng máu sau mới 8 ngày theo chồng sang Hàn Quốc vào tháng 7/2010. Ngày 24/5/2011 lại một cô dâu Việt Nam nữa tên là Hoàng Thi Nam mới sinh con được 19 ngày cũng bị chồng 37 tuổi đâm chết bởi 53 nhát dao bên cạnh đứa con vừa mới sinh đang khóc oe oe! Hôm 23/11/2012 vừa qua lại có một cô dâu Việt cũng đã ôm cả hai con nhảy lầu tự tử và còn rất nhiều vụ đau lòng khác nữa! Hiện nay số cô dâu Việt Nam tài Hàn Quốc đã lên tới gần 20 ngàn người.

[2] Cô Phạm Thị Thanh Trúc đã kết hôn với Trần Lập Thánh tại Đào Viên, Đài Loan 9 năm, sinh được 2 đứa con gái nhưng thường xuyên bị chồng đánh đập tàn nhẫn vì không có con trai. Cuối cùng, cô ấy đã phải xin li dị, thì ngay ngày vừa từ tòa án li dị về nhà, 22/12/2011, Trần Lập Thánh đã bóp cổ cô ấy đến chết rồi buộc đá vào người và ném xác cô ấy xuống biển khơi. Cô Đoàn Nhật Linh xinh đẹp 19 tuổi bị chồng hành hạ đến gần chết rồi tháng 2/2003 ném xác cô ra đường làm xôn xao dư luận...Những vụ hành hạ tàn nhẫn trên 20% trong số hơn 87 ngàn các cô dâu Việt Nam tại Đài Loan tương tự như thế gần như đã xẩy ra thường xuyên từ suốt nhiều năm nay!.
Read more…

Choáng: Gái bán dâm mới 16 tuổi nhưng phải đi khách hơn 30 lần 1 ngày

12:12 |
"Ơ, ngày "làm" từ 10h sáng đến hết đêm liên tục chẳng đến trăm lần chắc. Đấy là chưa kể "đi" đêm với khách nữa" - cô bé khẳng định.

Vào khu "tình ái"

Trong rất nhiều câu chuyện chúng tôi được tai nghe, mắt thấy về vô số những hoàn cảnh khiến các cô gái bán dâm dạt về "thiên đường sung sướng" ở Quất Lâm (huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định) để hành nghề "mua vui" cho khách làng chơi.

Có vô vàn lý do đưa đẩy các cô gái thôn quê vốn chân chất nhưng vì nhiều lý do khác nhau như hoàn cảnh gia đình này nọ, ham chơi... trượt dài trở thành "gái đú". Để rồi họ đã chấp nhận dấn thân vào cái nghề gái bán dâm luôn bị xã hội lên án, khinh bỉ, phản đối này.

  Trung bình mỗi lần  "vui vẻ" với khách, các cô gái bán dâm sẽ được
khoảng từ 30 đến 50.000 đồng từ một "vé" "tàu nhanh" 130.000 đồng.

Không biết xã hội lên án hay một phần cảm thông cho họ đây? Chắc chắn một điều rằng, xã hội chưa chấp nhận, pháp luật không cho phép. Ấy thế mà hoạt động mại dâm ở Quất Lâm vẫn tồn tại như một sự thật của cuộc sống thường ngày ở khu du lịch này (!?).

Nhưng có lẽ câu chuyện ngắn về một cô gái có biệt danh là Thảo “còi” sẽ khiến nhiều người phải chua xót, giật mình. Bởi cô gái mới ở cái tuổi 16 quê Sơn La này về Quất Lâm “định cư” trong quãng thời gian hơn một tuần lễ mà có "thành tích" "bán cái tự có" quả là kinh ngạc.

“Em đến đây mới có 8 ngày thôi, ngày nhiều nhất là hơn 30 lần “đi khách” – Thảo “còi” rành rọt “khoe” như vậy khi chúng tôi hỏi: “Về đây lâu chưa, mỗi ngày “đi” khách mấy lần?”.

Phía ngoài dọc trên bãi biển, những vị khách nam “ham của lạ” vẫn nườm nượp thế gót chân nhau ra vào ki-ốt số 13. Chẳng khó để nhận ra, họ đến đây không ngoài mục đích tìm kiếm sự "khoái lạc" "vui vẻ" một chút với những cô gái làm tiền.

Và với những đề nghị thỏa mãn sinh lý của cánh mày râu đặt chân đến đây, bà chủ ki-ốt luôn sẵn sàng điều “hàng” đến để “chiều” lòng khách đến.

Sau vài ba cuộc điện thoại điều "hàng" của bà chủ ki-ốt trong khu “tình ái” này để “mượn” các cô gái “bán hoa” từ những ki-ốt khác về, chỉ vài phút sau, 2 ả ăn mặc mát mẻ, đầu trần cưỡi trên chiếc xe tay ga xịn táp vào quán.

Họ không ngần ngại đưa ra những ánh mắt gợi tình lả lơi hướng về những vị khách đang ngồi nhâm nhi nước trà chờ đến lượt phía ngoài.

Chúng tôi ra vẻ là những người ham thích “của lạ” khó tính để đề nghị bà chủ “điều” cho một em dung nhan ưa nhìn và kèm theo yêu cầu dặn dò: “Kiếm cho em nhỏ nhắn, dễ coi chút bà chủ nhé”.

Không để chờ lâu, bà chủ nhấc điện thoại gọi loạn xạ hết chỗ này đến chỗ khác để đưa "hàng" về theo đề nghị.

Cuối cùng "con mồi" cũng xuất hiện, một cô gái ưa nhìn mọi "góc cạnh" trên cơ thể, khuôn mặt khá "nai" cũng đến.

Giật mình nghe gái bán dâm tuổi 16 “khoe”… “đi khách” hơn 30 lần/ngày

Ngồi tỉ tê với câu chuyện về cuộc sống của những người miền biển, rồi lái sang hoạt động tại thiên đường sung sướng ở Quất Lâm, cô gái có biệt danh Thảo "còi" vô cùng cởi mở.

Bởi theo cô gái này, hầu hết chị em đến Quất Lâm đều không ngoài mục đích kiến tiền bằng cái "vốn tự có".  Còn cánh đàn ông thì không  “ăn gái” cũng chẳng thể tắm biển vì ở đây nước biển đục ngầu tắm làm sao được?

Trở lại câu chuyện về nhân vật Thảo "còi" mà bà chủ ki-ốt số 13 đưa đến, cô có khuôn mặt non nớt nhưng cũng ít nhiều thể hiện được dáng đứng ẻo lả, trang phục khêu gợi khó cưỡng.

Với thân hình nhỏ nhắn, khuôn mặt ưa nhìn và quyến rũ hơn cả đó là chiếc áo hai dây bó sát người, quần bò khá gợi cảm hiện diện trước mặt chúng tôi. Ít phút sau, hai chúng tôi cùng nhau vào căn phòng phía sau ki-ốt số 13.

Gái bán dâm chờ khách tại một ki-ốtở Quất Lâm - Giao Thủy - Nam Định.

Trong câu chuyện với cô gái xưng tên Thảo “còi” quê ở Sơn La này, cô xuống Quất Lâm được 8 ngày. Nhưng điều đáng kinh ngạc là cô tiết lộ mình sinh năm 1996. Hỏi về lý do vì sao xuống đây làm cái nghề này thì Thảo "còi" không ngần ngại trả lời: "Vì chán bố mẹ cứ ép đi học nên nghỉ rồi xin nhà đi làm thêm".

"Nói chính xác là em sinh ngày 29 tháng 12 năm 1995. Thiếu một ngày nữa là em sang năm 96 rồi (1996) nên lấy sinh năm 96 cho nó trẻ" - Thảo "còi" cho biết.

Tiếp chuyện với Thảo "còi", dường như cô hãnh diện và tự hào là người trẻ nhất ở đây đi làm cái nghề này. "Ở đây em là người trẻ nhất đấy. Còn mấy chị cũng chỉ hơn em một vài tuổi thôi, đa phần toàn người trẻ tuổi cả. Thật đấy..." - Thảo "còi" cho biết thêm.

Chúng tôi tỏ vẻ chưa rõ hỏi lại về việc "một ngày đi khách bao nhiêu lần" thì Thảo "còi" nhẩm tính, chắc như đinh đóng cột: "Em xuống đây được 8 ngày, trung bình mỗi ngày "đi" khoảng 10 đến 20 khách. Có hôm ít người làm em ham quá "đi" được khoảng hơn 30 khách".]

Một gái bán dâm chờ khách ngoài bãi biển Quất Lâm.

"Sao nhiều thế cơ á? Cả "tàu nhanh"... Có đi đêm không?" - chúng tôi hỏi lại. "Ơ, ngày "làm" từ 10h sáng đến hết đêm liên tục chẳng đến trăm lần là không chắc. Đấy là chưa kể "đi" đêm với khách nữa" - cô khẳng định.

Hết câu chuyện trên giời dưới biển về cái nghề "mua vui" cho khách làng chơi, Thảo "còi" giục: "Thôi anh đi đi sắp hết giờ rồi. Một ca có 30 phút thôi đấy, không nhanh người ta gọi ra bây giờ".

Vội nhìn xuống máy ghi âm đang chạy chỉ ở phút 27 rồi, chúng tôi ra giọng mặc cả: "Bảo nhiêu phút rồi, đi thêm ca nữa với anh nha?". "Thôi anh "đi" nhanh lên em hẹn khách quen rồi. Thích thì gọi lại sau cho em đi" - Thảo "còi" mách nước.

Đúng như Thảo "còi" cảnh báo, vừa dứt lời, phía ngoài cửa tiếng bà chủ nói vọng vào: "Hết giờ rồi nhá".

Tôi chợt nghĩ, cánh đàn ông đến đây mà không "vui" một tí với các em cũng uổng phí, sao mình lại không nhỉ?

Nhưng hết giờ mất rồi, chưa kịp đến "Z" với em nên đành "hoãn" sự sung sướng đó lại và cùng lưu số điện thoại của nhau, hẹn hôm khác kèm theo lời nhắn: "Em mở máy để anh điện thoại còn đi nhé". "Ok" - em trả lời cụt ngủn rồi vội vã tút tát lại nhan sắc bước ra ngoài và tiếp tục công việc của mình...

Khi hỏi Thảo "còi" về việc thôi không làm cái nghề này nữa, cô tâm sự: "Em làm ít hôm nữa kiếm chút vốn rồi về quê mở hàng buôn bán, chứ học tiếp chắc đầu óc cũng không thể nhồi nhét được đâu!".

Theo Giáo dục Việt Nam

Read more…

“Ngọc” đổi gạo, cơm thịt chuột

02:42 |
Đào Tuấn

Thống kê chính thức cho thấy, năm 2012, trong chính năm đất nước vươn lên vị trí cường quốc xuất khẩu gạo số 1 thế giới, vẫn còn 450,3 nghìn lượt hộ, 1.911,8 nghìn lượt nhân khẩu bị thiếu đói. Hàng triệu lượt người thiếu đói. Đó là một sự thật.

Bản tin “Chào buổi sáng” ngày 12.1, VTV phát một phóng sự rớt nước mắt về những đứa trò nhỏ ở Bắc Yên, Sơn La: Ở lán. Không cửa, phải leo ra leo vào như khỉ. 5 độ C. Không ngủ được thì sao? “Không ngủ được thì thức”. Cơm được nấu trong một chiếc nồi không vung. Và không có gì ăn, các cháu phải bẫy chuột làm thức ăn. “Thoạt đầu chúng tôi không hiểu và chúng tôi cũng chỉ nghĩ rằng những chiếc bẫy này thì dùng để diệt chuột. Thế nhưng hỏi các em thì mới biết được rằng đây lại là cách của các em để cái thiện bữa ăn”.

Có bao giờ bạn thấy xấu hổ khi nhìn những tấm biển, bằng tiếng Việt, ở một khu du lịch nào đó ở Thái Lan “Xin vui lòng ăn bấy nhiêu, lấy bấy nhiêu, ăn không hết sẽ bị phạt từ 200 bath đến 500 bath”?

Có bao giờ trước một bữa buffet, nơi thức ăn bị bỏ lại thừa mứa, bạn nghĩ đến những đứa trẻ vùng cao đang phải bẫy chuột để ăn?

Ngày hôm qua, Chương trình Cơm có thịt của nhà báo Trần Đăng Tuấn đưa về Hà Nội để chữa bệnh cho một cô bé người Mông. Hầu Thị Ly, học sinh lớp 7 trường THCS Pa Cheo, Bát Xát, Lào Cai. Hầu Thị Ly thường xuyên ngất xỉu. Và ngay trước khi được đón về Hà Nội, gia đình đang “cúng ma” vì cho rằng cô bé bị “ma làm”. Có một chi tiết nói ra thật đau lòng. Hầu Thị Ly không ăn thịt. Vì sao ư? Vì đã từ tết năm ngoái, cô bé đã “quên” mùi vị của một miếng thịt. Chẳng biết đâu, căn bệnh ngất xỉu của Hầu Thị Ly bắt đầu từ những bữa ăn “chay trường” quanh năm.

Cũng trong ngày hôm qua, tờ Sài gòn tiếp thị kể về những cảnh đời ở Châu Thành A, Hậu Giang đem “ngọc” đổi gạo. Đó là một anh Ba Ni nào đó “Không có miếng đất cấy trồng nào, quanh năm suốt tháng, cả chồng lẫn vợ chỉ biết đi làm mướn nuôi con”. Và rồi, người đàn ông này, như hơn 360 người khác, quyết định đi đình sản, nói như dư luận mà bài báo dẫn, là “thiến”, là “đổi ngọc lấy gạo”... “Thiến”, để được 800 ngàn đồng bồi dưỡng, phục hồi sức khoẻ “để dành… mua gạo ăn dần”. Thật đau lòng khi nghe lời thổn thức của vợ anh Ba: “Hồi đó cưới nhau lành lặn, bây giờ… làm vậy thấy nó ngồ ngộ! Phải chi bị tai nạn hay bệnh tật gì mà buộc phải vậy thì đành chịu, đàng này… Nhưng thôi, số mình nghèo nên chịu… vậy!”.

Đói cơm. Đói thịt. Đói một cách vật lý. Không phải chỉ những đứa trẻ vùng cao. Không chỉ những người dân không đất Hậu Giang. Thống kê chính thức cho thấy, năm 2012, trong chính năm đất nước vươn lên vị trí cường quốc xuất khẩu gạo số 1 thế giới, vẫn còn 450,3 nghìn lượt hộ, 1.911,8 nghìn lượt nhân khẩu bị thiếu đói. Hàng triệu lượt người thiếu đói. Đó là một sự thật.

“Bây giờ mình không thiếu gạo, mình cũng viện trợ nơi này nơi khác, vậy tại sao để con cháu mình trong cảnh cháu mang mì, cháu mang ngô, cháu mang khoai đến lớp, rồi phải lợp chòi nấu ăn?”. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã đặt câu hỏi ra một câu hỏi không nhỏ với lãnh đạo ngành lao động – thương binh và xã hội trong hội nghị trực tuyến của bộ này vào sáng 7-1.

Trong năm 2012, 22,6 nghìn tấn lương thực và 24,4 tỷ đồng đã được dùng để cứu đói cho những người như Ba Ni.

Rồi thì từ cuối tháng 10-2011, Thủ tướng cũng đã có quyết định (số 60) hỗ trợ bữa ăn trưa 120 ngàn đồng/tháng cho trẻ mầm non 3, 4 tuổi. Theo nhà báo Trần Đăng Tuấn, đa số trong số 46 trường mầm non đang được Chương trình thiện nguyện “Cơm có thịt” của ông giúp đỡ (tổng số 5.800 cháu 3, 4 tuổi) chưa nhận được tiền hỗ trợ này. Các cô giáo cho biết tiền đã được chuyển về huyện nhưng chưa chi vì thiếu văn bản hướng dẫn nên nơi làm, nơi chưa dám làm.

Xin cảm ơn Thủ tướng, cảm ơn Chính phủ đã không quên những người dân nghèo, không quên những đứa bé vùng cao. Nhưng đã 13 tháng trôi sau khi quyết định của Thủ tướng có hiệu lực, cơm cũng chưa có mà thịt cũng không. Và những đứa bé vùng cao vẫn tiếp tục phải “bẫy chuột” trước khi quên hẳn mùi vị của một miếng thịt, trước khi “bỗng nhiên ngất xỉu” như Hầu Thị Ly.

Gạo không thiếu. Chính sách không thiếu. Cái thiếu dường như là trách nhiệm, và một chữ tâm của những người thực thi chính sách.

Theo blog Đào Tuấn
Read more…

Nỗi đau câm nín của các cô gái lấy chồng Đài Loan

09:04 |
Thanh Trúc

Tâm sự của một cô gái trẻ lấy chồng người Đài Loan, phải chăng là một bài học cho những người mẹ và những cô gái còn tuổi thơ ngây.

Lời cảnh báo của người trong cuộc
 
Đám cưới tập thể lấy chồng Đài loan - hình minh họa
Ba em nuôi vịt nhiều nên mắc nợ, mẹ em đi bán mà đâu có nuôi nỗi ba đứa em đâu, đi bán ở chỗ người ta thì bị  người ta đuổi, rồi nhà cửa thì không ổn định, nhiều chuyện rất là buồn. Ba mẹ mắc nợ ngày nào người ta cũng lại đòi tiền nên em suy nghĩ em thấy người ta đi lấy chồng qua đây rồi về cũng có tiền cho cha mẹ. Em nghĩ nếu mà em qua đây được em có thể đi làm giúp gia đình phần nào đỡ phần đó. 



Và người con gái hai mươi mốt tuổi đó,  chưa bao giờ ra khỏi Châu Thành, Tây Ninh, năm 2005 lần đầu tiên lên Sài Gòn để cùng ông chồng Đài Loan bốn mươi bốn tuổi đi về Đài Trung.

Bảy năm dài nhẫn nhịn, ê chề, sợ hãi và chịu đựng, đóng vai một người vợ hạnh phúc trong hai lần đưa con về thăm cha mẹ, cô quyết định nói lên sự thật đời mình:

Với lại về trong người em không có được hạnh phúc cũng không có được hãnh diện không có được cái gì hơn người ta nên em cũng không dám ra ngoài đường. 

Mục đích của em là muốn đừng có người nào thiếu suy nghĩ và dại dột giống như em, với lại đừng có quá tin những người làm mai làm mối qua bên đây. Một mình em khổ thôi, em không muốn người khác khổ giống như em nữa. 

Một tờ rao vặt dán trên tường quảng cáo môi giới
cô dâu Việt Nam tại Đài Loan. (ảnh minh hoạ)
Cô đã bị gạt khi nghe lời bà Dung, một người bà con bên nội, móc nối với Thanh, một cô dâu Việt Nam ở Đài Trung về thăm nhà. Bà Dung và cô Thanh làm mai người đàn ông bốn mươi bốn tuổi, bạn của chồng Thanh ở Đài Trung, mà không bao giờ nói cho cô biết đó là một gã đàn ông bê tha, rượu chè, cờ bạc, thậm chí đã có lúc ngồi tù vì say sưa và làm điều xằng bậy với phụ nữ.

Chị đó ở bên Đài Loan, lấy chồng Đài Loan ở gần bên nhà chồng em. Chồng chị đó ngày nào cũng uống rượu  giống như chồng em vậy, không có đi làm. Rồi chị làm mai cho em, chị nói qua đây nó làm sao kệ nó, mình có tiền được rồi. Em hỏi chị tại sao chồng em lớn tuổi mà chưa có vợ, chị nói chồng em có hiếu lắm, lo cho cha cho mẹ không có thời gian quen với bạn bè nên không có vợ.

Mục đích của em là muốn đừng có người nào thiếu suy nghĩ và dại dột giống như em, với lại đừng có quá tin những người làm mai làm mối qua bên đây. Một mình em khổ thôi, em không muốn người khác khổ giống như em nữa
Kết quả là chỉ trong vòng hai tháng, người đàn ông gấp đôi tuổi ấy theo cô Thanh sang Việt Nam làm đám cưới với cô:

Em chưa có lên thành phố lần nào, lần đầu tiên em đi ra mắt chồng em là em lấy luôn.
Ngoài sính lễ vòng vàng để lại cho cha mẹ, số tiền mặt năm triệu đồng của chồng đưa thì cô trao hết cho bà Dung gọi là trả ơn công khó làm mai.

Tại vì bà mai nói với em là chồng em nó chịu người khác. Em mới nói nếu mà suông sẻ chồng em cưới em thì số tiền năm triệu đó em sẽ cho bà mai. 

Mãi sau, về Đài Trung, cô mới khám phá người chồng Đài Loan của cô cũng đã chi một số tiền trả ơn cho cô Thanh.

Sự thật đau lòng

Lúc chồng em về Việt Nam cưới em nó không uống rượu, nó uống sửa tươi không hà. Em nghe người ta kể đi kiếm chồng Đài Loan rất khó, nếu mà coi được thì chịu chứ để lỡ cơ hội. Thì em thấy ổng cũng được, em suy nghĩ là giúp cho cha mẹ mình là điều quan trọng nhất, còn già không sao, nhiều khi em nhỏ tuổi thì nó thương em hơn. Ổng biết cách làm bề ngoài lắm cho nên nhìn cũng không ra được. 

Tin tức lo ngại về các cô gái đi lấy chồng
Đài Loan vẫn xuất hiện trên báo chí.Báo Phụ Nữ
Qua bên đây em có bầu bốn tháng em mới biết chồng em uống rượu như vậy, rồi em mới nghe mấy chị ở gần đây kể là chị Thanh đó biết chồng em mới ra tù, hình như uống rượu đánh lộn với người ta rồi có đụng chạm tới một người con gái thành người ta đi thưa. 

Cũng từ đó, cô vừa bụng mang dạ chửa vừa phải đối mặt hàng ngày với ông chồng vũ phu, nghiên ngập bê tha của mình:

Đi làm nghề thợ hồ, bao nhiều tiền lương thì đi đánh bài uống rượu rồi về quậy rồi chửi. Về là bắt đầu kiếm chuyện chửi em rồi nắm đầu em, em sợ em chạy. Lúc đó ông già chồng em đi mổ rồi bà má chồng đi theo nuôi, nhà chỉ có em với hai người em chồng và một người em dâu. Em sợ quá em phải vô ngủ chung với em dâu em.

Qua bên đây em có bầu bốn tháng em mới biết chồng em uống rượu như vậy,...biết chồng em mới ra tù, hình như uống rượu đánh lộn với người ta rồi có đụng chạm tới một người con gái thành người ta đi thưa
Ngày nào em dâu với em chồng em không có nhà thì em chui xuống gầm giường em ngủ, không dám mở đèn. Có bầu mà chui xuống gầm giường ngủ ở dưới, chồng đi kiếm chửi mà kiếm không thấy thì thôi. Em sợ em có bầu mà vợ chồng cự qua cự lại trúng cái bầu nên em trốn. 

Em có bầu mà em phải đi làm, ban ngày đi làm, tối về chui xuống gầm giường bà má chồng ngủ dưới đó, còn nó dắt bạn bè về uống rượu rồi chửi bới tùm lum hết. Nói chuyện với em là bắt đầu có câu chửi thề trước mặt, chửi em dịch ra tiếng Việt Nam nghe kỳ lắm. Hai vợ chồng nhiều khi gây lộn hay gì đi nữa thì má chồng toàn binh chồng em không hà. Đi khám thai về em nói với chồng là con trai thì cảm giác của nó là đặng cũng không mừng mà mất cũng không lo nữa.

Tự nhủ dù sao cũng có con với người ta, cô gái trẻ cắn răng chịu đựng tánh khí thô lỗ thất thường của ông chồng rượu chè, cố gắng đi làm để dành tiền chờ ngày sinh nở, lại phải lo gởi về giúp cha mẹ trả hết nợ:

Lúc mới qua tiếng chưa rành em đi làm ở tiệm dép gần đó. Làm một tháng không bao nhiêu hết, đủ xài với gởi về cho ba mẹ phần nào đó. Bữa đó em lãnh lương được bảy ngàn tiền Đài Loan, em nghĩ chồng em không biết lo sợ nữa đẻ con không có ai lo cho em nên em để dành tiền. Em để bảy ngàn ở dưới sàn giường chồng em ở nhà rảnh không có chuyện gì làm mới lục tung đồ của em ra lấy đi uống bia ôm hết ráo .

Em có bầu mà em phải đi làm, ban ngày đi làm, tối về chui xuống gầm giường bà má chồng ngủ dưới đó, còn nó dắt bạn bè về uống rượu rồi chửi bới tùm lum hết
Cắn răng chịu đựng vì sĩ diện

Nhưng tại sao biết mình bị gạt từ nhiều phía, bị gạt từ quê nhà cho tới quê chồng, cô vẫn cắn răng chịu đựng mà không tìm cho mình một lối thoát. Tất cả, cô nói, chỉ vì vấn đề sĩ diện:

Em nghĩ bỏ con về Việt Nam cũng tội nghiệp rồi sợ mang tai mang tiếng ở bên Việt Nam, thôi ráng nhịn đắng nuốt cay để cho làng xóm người ta đừng có cười mình. Nhiều khi buồn quá em sợ em nghĩ quẩn em cũng có tâm sự chút chút cho ba mẹ nghe. Ba mẹ cũng kêu đi về nhưng em nghĩ lấy chồng không giúp ích gì được cho cha mẹ mà bây giờ mang con về em sợ khổ ba khổ mẹ rồi làng xóm người ta cười chê nên em không về. 

Em làm mà không dám ăn xài, để dành gởi về cho ba mẹ trả nợ từ  từ, chỉ trả bớt nợ chứ không có giúp được gì tại bên nay em còn nuôi con em đi học nữa. Em ăn xài tiết kiệm mới có gởi về Việt Nam chứ đâu phải lấy tiền nhà nó, nhiều khi em phải nuôi ngược lại nó. Uống rượu hoài nhiều khi thiếu nợ quán bia, đi bao gái thiếu nợ rồi người ta lại nhà người ta đòi.

Bảy năm câm lặng với đứa con trai nay lên bảy tuổi và đã vào Lớp Một. Cô nghĩ mình đã hy sinh quá đủ để có thể được gần con, nhưng nỗi đau và câu hỏi tại sao phải sống trong ê chề khi lòng không muốn vẫn ám ảnh không nguôi. Nếu không có những lời yêu thương từ con trẻ thì chắc cô không vượt qua được với ông chồng lớn tuổi mà chừng như có vấn đề tâm thần:

Có một lần uống rượu xong rồi ông đánh thằng cháu, em binh thì ông nắm đầu em ổng đập vô vách tường. Ổng còn cái tật là uống rượu xong thì chửi  lộn đánh lộn với người ta rồi kêu xe cấp cứu một đêm kêu ba bốn lần, kêu công an lại nữa, liên tục vậy đó. Đi lại đẳng cái ông mướn xe tắc xi ông về, hồi uống rượu cái kêu nữa, cứ như vậy làm hoài. Nhiều khi má chồng em nói nó bị ma nhập, bả đi cúng này kia cũng không hết, em không biết nó bị cái gì.

Em nghĩ bỏ con về Việt Nam cũng tội nghiệp rồi sợ mang tai mang tiếng ở bên Việt Nam, thôi ráng nhịn đắng nuốt cay để cho làng xóm người ta đừng có cười mình
Đẻ con được ba tháng thì em đi theo người ta đi làm, gần như làm hồ vậy đó,  em mua sữa cho con, rồi con em cũng từ từ lớn. Ba chồng em trước khi mất ổng có nói là ông mất thì em khổ dữ lắm. Má chồng em hồi dọn nhà đi là em năn nỉ em khóc em kêu đừng có đi nhưng má chồng em không ở tại chồng em uống rượu về quậy hoài. 

Chỉ còn đứa con trai là nguồn an ủi duy nhất của người đàn bà trẻ bất hạnh và trơ trọi này. Đã có đôi lần cô định liều dẫn con đi trốn thì mẹ chồng dọa sẽ bắt con cô và đuổi cô ra khỏi nhà vĩnh viễn:
Con em ngoan lắm, nó thương em lắm lận. Nhưng mà thấy em khổ quá, nhiều khi chồng em uống rượu rồi về chửi em ngủ không được em khóc thì nó kêu em mẹ đừng có khóc, mẹ khóc là mắt con cũng muốn khóc theo mẹ, nếu mẹ sống với ba không nỗi mẹ đi ra ngoài mẹ kiếm người khác thương mẹ như vậy là con vui được rồi. 

Sáng sớm trước khi đi làm thì em chở con đi học, chiều về nó lại nhà bạn em ăn uống ở đó, về nhà đâu có ai đâu. Nhiều khi nó tủi thân nó hỏi tại sao để nó đi lại nhà người ta ăn cơm chực, ăn ngon cũng không dám đòi ăn thêm. Nó nói chuyện tội nghiệp lắm. 

Phải chờ đến bảy năm cô mới quyết định liên lạc với Thanh Trúc để trình bày hoàn cảnh đáng thương của mình. Với cô, gái Việt đi lấy chồng Đài thì số người  hạnh phúc chỉ trên đầu ngón tay, còn kém may mắn và bị lạm dụng bị bạo hành thì vô số, ngay cả cô Thanh là người mai mối cho cô cũng nằm trong trường hợp đó.

Vấn đề ở đây, theo cô, là người trong cuộc không bao giờ chịu nói sự thật với gia đình với bà con hàng xóm bên nhà. Bạn bè có hỏi tới thì các cô bảo lấy chồng Đài Loan cũng ấm thân mà còn giúp cha mẹ cải thiện cuộc sống nghèo khó:

Về Việt Nam sống thời đại này là phải có tiền để làm lại từ đầu thì không có bằng bên nay. Mà em sợ về Việt Nam con em thua thiệt người ta, cũng đồng thời em đi lấy chồng bên nay mà giờ em đi về bển sợ làng xóm láng giềng người ta nói. 

Bây giờ cô đi làm công trong một công ty sắt mà đồng lương cũng rất eo hẹp, lại phải nuôi báo cô một ông chồng nát  rượu:

Em cũng muốn thoát khỏi cảnh này mà em nghĩ hai mẹ con ra đường em sợ đồng lương không đủ nuôi con. Má chồng em có nói nếu mà ly dị thì bả bắt con em. Em có đi hỏi luật sư nếu em ly dị chồng em thì em có bắt được con hay không. Luật sư nói được tại vì chồng em uống rượu như vậy thì không có tư cách nuôi con em. Nhưng mà luật sư nói nếu má chồng muốn bắt con em là có thể được tại vì bà có ruộng, có đất có nhà, nếu ra tòa bà đòi bắt con em là được, ra tòa là em thua. 

Đó là tâm sự, là tiếng than não nuột của của một cô dâu trong nhiều cô dâu Việt chân chất, quê mùa và cô đơn ở Đài Trung:

Bởi vậy chị em trước khi đi lấy chồng phải suy nghĩ cho thật là kỹ, đừng dại dột như em nhắm mắt đi qua đây rồi hối hận. 

Câu chuyện không mới, chỉ là câu chuyện đau lòng, về một cuộc sống bị đánh mất bởi con đường nhắm mắt đưa chân đi lấy chồng nước ngoài qua môi giới chứ không qua tình yêu. Mong các bậc cha mẹ gả bán con đi xa hiểu cho nỗi khổ và sự hy sinh mà con phải chịu đựng, để thấy có khi nhà cao cửa rộng và những tiện nghi vật chất mà còn gởi về không chắc là những đồng tiền hạnh phúc và bình an của con mình.

Thanh Trúc sẽ trở lại cùng quí vị tối thư Năm tuần tới.

© Thanh Trúc, phóng viên RFA
---------------------------------
Read more…

Những món ăn kinh dị nhất Việt Nam

11:44 |
Minh Minh (tổng hợp)

Moi óc khỉ sống, nuốt chửng quả tim rắn còn đang nóng hôi hổi, xẻ thịt rắn còn đang sống để lấy bào thai rồi thưởng thức... là những món ăn không chỉ khiến cho nhiều người kinh hãi mà còn khiến dư luận “ném đá” dữ dội.

Nuốt chửng tim rắn


Nhiều người cho rằng, nuốt chửng quả tim vừa lấy ra từ còn rắn,
vẫn còn đang đập và nóng hôi hổi sẽ có tác dụng bồi bổ đặc biệt
cho các quý ông.
Tim rắn là món ăn không còn xa lạ ở Việt Nam bởi nó đã được rất nhiều người đề cập đến. Tuy nhiên, không phải ai cũng có thể “thưởng thức” được món ăn này.

Quả tim vừa lấy ra từ con rắn, vẫn còn đập và nóng hôi hổi được đặt giữa một chiếc đĩa nhỏ đựng tiết, sau đó, nó được thả vào chiếc chốc chứa rượu. Người thưởng thức sẽ uống liền một hơi cả rượu và tim rắn.

Nhưng có những người lại có sở thích thưởng thức món tim rắn bằng cách nuốt trọn quả tim ngay khi nó vẫn còn đang đập mà không cần nhúng vào cốc rượu...

Bào thai rắn

Nhiều người lại có sở thích xẻ thịt con rắn còn sống và
đang bụng mang dạ chửa để lấy bào thai... và thưởng thức
Vì muốn trở thành dũng sĩ chốn phòng the, nhiều quý ông đã lao vào thú ăn chơi “tàn bạo”. Họ lùng mua những con rắn lúc đang bụng mang dạ chửa, mổ bụng lấy bào thai sau đó... nhúng qua nồi nước đang sôi rồi thưởng thức.

Có một vị khách đã miêu tả: “Những con rắn nhỏ li ti đang nằm trong bào thai nhưng vẫn cố ngúc ngoắc cái đầu, uốn éo như giun, để mong khỏi chiếc bao nhầy nhụa chất nhờn và gân máu, nhưng chỉ sau vài giây thì bỗng co giật dữ dội rồi nằm thẳng đơ, nổi lềnh bềnh trong nồi lẩu bên tiếng reo hò của đám thực khách.

Những người đàn ông lạnh lùng thì gắp từng con cho vào nồi nước sả đang sôi ùng ục rồi cuốn với bánh tráng. Lại có ông chỉ nhúng sơ rồi cho thẳng vào miệng...”.

Món ăn này ngay khi xuất hiện đã vấp phải sự phản ứng của rất nhiều người, bởi nó đi ngược với truyền thống nhân văn của dân tộc. Ngoài ta, nhiều người còn cho rằng, thú ẩm thực tàn nhẫn này còn góp phần đẩy loài mãng xà trên tiến đến bến bờ tuyệt diệt.

Cá ngáp trên bàn tiệc

Món cá được chế biến rất cầu kỳ, đã gặp phải sự
phản ứng gay gắt của dư luận
Xuất hiện trên bàn tiệc là một món cá được trình bày bắt mắt, phần thân được rán vàng nhưng phần đầu còn sống với mang còn thở và miệng liên tục ngáp.

Món ăn này ngay lập tức đã nhận được những phản ứng dữ dội từ phía cộng đồng mạng. Trong đó có nick name còn tỏ ra gay gắt:

“Giết chết một sinh mạng để nuôi sống bản thân đã là có tội rồi, đằng này còn dùng cách làm cho con vật sống dở chết dở mà vẫn có thể vừa ăn vừa cười giỡn được thì thật quá dã tâm. Giá như con cá biết nói tiếng người, biết chảy nước mắt van xin thì thử có dám ăn không… Chỉ có thể dùng từ “dã man” đối với những “thượng đế” này”.



Bên cạnh đó, nhiều người cũng không tiếc lời mà cho rằng đây là món ăn “mọi rợ” nhất ở Việt Nam và người thưởng thức món ăn này là những người không có lương tâm.

Óc khỉ sống

Món ăn tàn bạo đã khiến dư luận dậy sóng.
Toàn thân con khỉ được nhét vào trong một chiếc hộp bên dưới bàn ăn, chỉ mỗi cái đầu được nhô lên trên bàn ăn. Người ta cầm con dao sắc ngọt phạt một nhát ngang chỏm đầu con khỉ. Khách dùng thìa múc óc còn tươi máu ăn với rau gia vị trong khi con khỉ vẫn còn kêu la, nước mắt chảy ròng ròng ở dưới bàn.

Cách làm vô nhân tính này đã khiến cho nhiều người bức xúc, cư dân mạng “ném đá” dữ dội đồng thời kêu gọi tẩy chay.

Được biết, từ xa xưa, óc khỉ sống đã được lưu truyền ở Á Đông như một món đại bổ giúp tăng cường sinh lực cho các quý ông. Tuy nhiên, sau đó, các các nhà khoa học đã chứng minh rằng việc ăn óc khỉ sống là nguy cơ mang đến nhiều loại bệnh tật nguy hiểm.

Nhưng do thiếu hiểu biết, không ít người ở Việt Nam vẫn sẵn sàng bỏ ra một khoản tiền lớn để thưởng thức món ăn ghê rợn này.

Theo VietNamNet
Read more…

Tại sao người nghèo lại cần quyền sở hữu?

01:57 |
James Peron
Phạm Nguyên Trường dịch

James Peron - Tại sao người nghèo lại cần quyền sở hữu hay quyền sở hữu cho người bán hàng rong có thể tạo ra thịnh vượng như thế nào

Ngay từ sáng sớm những dãy phố bên dưới căn phòng của tôi đã hoạt động nhộn nhịp như một tổ ong. Những quầy hàng nhỏ bé nằm rải rác khắp nơi, chen nhau trong từng khoảng trống trên vỉa hè. Những rổ chuối nhỏ, những túi khoai tây hay cà chua được bày bán khắp nơi. Những người bán báo bám lấy từng góc phố đông đúc. Những người bán hàng rong với mọi thứ sản phẩm có thể tưởng tượng được tiến hành công việc làm ăn của mình.

ảnh minh họa
Chiều tà, hoạt động có giảm đi nhưng không chấm dứt hẳn. Những người bán rau đã trở về nhà. Bây giờ phố xá sặc mùi xúc xích nướng. Đi dọc phố sau khi trời đã tối được một lúc, tôi bị những người bán thức ăn vây quanh, họ hi vọng bán món hàng của mình cho những người tìm món ăn nhẹ vào buổi tối.

Những người bán hàng này là những thứ đầu tiên tôi nhớ lại khi rời châu Phi. Tôi không chỉ ở châu Phi, tôi đã ở trong những khu vực đông dân nhất trên lục địa này – đấy là khu Hillbrow ở Johannesburg. Những người bán hàng rong là thành phần chủ yếu của đời sống ở Hillbrow. Một số người thậm chí còn nói rằng chính họ làm cho nó suy sụp. Hiện nay Hillbrow là một khu ổ chuột, đầy gái điếm, bọn buôn bán ma túy, người nước ngoài rất đáng ngờ và những ngôi nhà đổ nát. Thế mà mới mười năn trước nó chính là trung tâm thời trang của Johannesburg.

Những người bán hàng rong bị lên án là nguyên nhân của sự suy sụp vì hàng quán của họ chiếm hết vỉa hè. Mỗi ngày những đống rác và thức ăn thiu thối mà họ bỏ lại càng cao thêm mãi lên. Không thể đi bộ trên vỉa hè vì tuần nào cũng có thêm những người bán hàng rong mới chen chúc nhau ở đó.

Cố gắng rất đáng trân trọng trong việc kiếm sống của người này lại trở thành khó chịu đối với người khác. Khi đời sống chính trị ở Nam Phi thay đổi, việc thực thi quy định của chính phủ về bán hàng rong cũng thay đổi theo. Thời gian đầu chính phủ mới tìm cách bợ đỡ những người bán hàng rong và không đưa ra quy định nào hết. Nhưng sau một thời gian, khu phố buôn bán trung tạm trở thành nơi không thể đi lại được nữa. Khách sạn sang trọng tên là Carlton Hotel đóng cửa và phòng nghỉ của cái khách sạn 50 tầng này đành bỏ không. Thậm chí thị trường chứng khoán Johannesburg cũng chạy sang khu vực thịnh vượng và sạch sẽ hơn của Sandton. Tôi sẽ không dám đi vào ban ngày nơi tôi từng một lần đi qua vào lúc nửa đêm. Khi khu vực trung tâm suy sụp, chính phủ lúng túng không biết nên nghiêm khắc hay không cần thực thi luật lệ về bán hàng rong nữa.

Nhưng dù người ta có gán cho những người bán hàng rong những tội lỗi gì đi nữa thì bạn có thật sự phê phán họ hay không? Trong một đất nước với trên 40 triệu dân, mà chỉ có dưới 25% người có việc làm thì luật lao động mới chỉ làm cho vấn đề trầm trọng thêm mà thôi. Vỉa hè là để dành cho người đi bộ chứ không phải cho hàng quán. Nhưng không có hàng quán thì con em những người bán hàng rong sẽ bị đói.

Sự giận dữ sẽ còn tiếp tục đổ lên đầu lên cổ những người bán hàng rong, và hiện nay cuộc xung đột vẫn còn tiếp tục vì ngay cả bây giờ vỉa hè vẫn được coi là tài sản công cộng hay là “của chung”. Các nhà kinh tế học đã và đang viết về “bi kịch của tài sản chung” và đây là một ví dụ nữa của việc tài sản chung bị bóc lột một cách quá mức, đến nỗi trở thành có hại cho tất cả mọi người.

Ngay cả vấn đề rác cũng là vấn đề của sở hữu chung. Nhà kinh tế học Walter Block đã từng nhận xét rằng vứt rác chỉ xảy ra ở những nơi thuộc tài sản công mà thôi. Chắc chắn là rác rưởi thường bị ném vào những chỗ thuộc tài sản riêng nhưng được mở ra cho mọi người cùng sử dụng – đấy là những chỗ như siêu thị, sân thể thao, rạp chiếu phim. Nhưng ở những chỗ đó, người chủ sở hữu không gọi cảnh sát tới phạt, mà đưa người tới dọn dẹp. Dọn dẹp là một phần của việc kinh doanh.

Nhưng thế giới của hàng rong lại không có quyền sở hữu, và vì vậy mà mới có nhiều vấn đề. Người buôn bán không có quyền sở hữu chỗ đặt quầy hàng và biết rằng họ có thể bị đuổi đi bất cứ lúc nào. Thỉnh thoảng lại có một đội cảnh sát tới đuổi, tịch thu hàng hóa và tịch thu cả hàng quán nữa. Kết quả là người bán hàng không quan tâm tới việc đầu tư vào hàng quán. Chỉ cần môt tấm bìa các tông trải ngay trên nền đất cũng xong. Thêm nữa, sẽ trở thành khoản đầu tư mà họ không thể kham nổi vì sợ mất.

Hernando de Soto cũng nhận thấy vấn đề tương tự như thế ở những người bán hàng rong ở Peru. Ông viết như sau: “Nguy cơ bị đuổi luôn luôn đe dọa những người bán hàng rong, nhất là khi bị tắc đường hay dưới áp lực của người dân sống trong khu vực. Nói một cách thực tế, điều đó ngăn chặn mọi ý định đầu tư dài hạn nhằm cải thiện khu vực, buộc những người bán hàng rong tiếp tục sử dụng những chiếc xe đẩy chứ không làm hàng quán bằng vật liệu xây dựng, có điện, nước, tủ lạnh, kho và những vật dụng khác đủ chứa số hàng hóa cần thiết. Xây dựng những tiện nghi như toilet, chỗ để xe hay vườn cây sẽ là việc làm không thiết thực”[1].

Giải pháp cho cuộc xung đột khi những quyền lợi cạnh tranh với nhau có ý định chộp giật những tài sản thuộc quyền sở hữu chung là tư nhân hóa. Như tôi đã nói bên trên, giải pháp thay thế còn lại duy nhất là những biện pháp có tính độc đoán: công an, phạt và tịch thu[2].

Quyền sở hữu có tác dụng

Trong một khu vực ở Johannesburg, biện pháp tư hữu đã được đem ra thử nghiệm và có tác dụng. Các chủ doanh nghiệp tư nhân đã thành lập những khu vực quản lí tư nhân nhằm giải quyết những vấn đề phát sinh. Một khu vực như thế nằm ngay trên con đường trước khu nhà tôi, gọi là Ban quản lí Rosebank (RBMD).

Ở đây cũng có vấn đề hàng rong. Một đoạn phố nhỏ tên là Craddock chạy giữa siêu thị Rosebank và một vài cửa hàng nhỏ ở bên kia đường. Khoảng 140 người bán hàng rong chen chúc trong khu vực này. Mọi cố gắng nhằm ngăn chặn việc chiếm đoạt vỉa hè đều không đem lại kết quả vì khi lực lượng cưỡng chế vừa ra đi là những người bán hàng rong lại chiếm lấy càng nhiều chỗ càng tốt. Người đi bộ nhiều khi buộc phải bước xuống đường. Chỉ cần một người dừng lại để xem món đồ là lối đi đã không còn. Mỗi người bán hàng rong, trong khi hành động vì lợi ích cá nhân của mình, lại có những hành vi mà tất cả đều bị thiệt hại – tất cả, bởi vì không người nào có quyền sở hữu cái tài sản mà người đó đang sử dụng.

RBMD có giải pháp. Thứ nhất, dãy phố được nhượng lại cho họ. Con phố bị đóng cửa, không cho xe chạy qua nữa. Thứ hai, hầu như toàn bộ dãy phố được biến thành khu vực ngoài trời cho công chúng sử dụng. Một khu chợ hai tầng được xây dựng cho những người bán hàng rong và một công ty quản lí được thuê để cai quản công việc. Khoảng 60 người bán hàng rong được chọn vào bán trong tòa nhà này với khoản phí tối thiểu. Ngay bên dưới tòa nhà, nơi những người bán hàng rong từng sử dụng làm chỗ bán hàng, được RBMD dùng làm nơi biểu diễn của các diễn viên múa truyền thống. Các khách sạn ở đây đặt cả bàn ra ngoài vỉa hè. Khu vực từng xuýt bị lụn bại lại trở thành nơi thu hút khách du lịch.

RBMD còn thuê cả đội bảo vệ và vệ sinh viên nữa. An ninh được cải thiện, cả người mua, người bán hàng có môn bài và cả những người bán hàng rong đều được lợi. Ngoài ra, thành phố không còn phải lo dọn dẹp nữa vì RBMD đã quan tâm tới chuyện này rồi.

Trước đây, xung đột là không tránh khỏi. Nhưng khi những người bán hàng không có môn bài được đưa vào hệ thống thị trường với quyền sở hữu thì những người bán hàng có môn bài và không có môn bài có thể hợp tác với nhau vì quyền lợi chung.

Một cách nữa là dựng những quầy hàng trên hè phố. Người ta dành ra những khu vực riêng và người bán hàng được giao quyền sở hữu quầy hàng đó. Bằng cách bảo đảm cho người ta quyền sở hữu khu đất mà đằng nào người ta cũng sử dụng, thành phố có thể động viên những người bán hàng rong.

Theo luật hiện hành, quầy hàng là vốn chết: giá trị của nó không được sử dụng một cách đúng đắn vì không được pháp luật công nhận. Trong các nước thuộc thế giới thứ III, như de Soto đã chỉ rõ trong tác phẩm Bí ẩn của tư bản (The Mystery of Capital), có một số lớn vốn chết[3]. Nhà chưa có quyền sở hữu, doanh nghiệp ngầm, những người bán hàng rong – tất cả đều là một phần vốn chết của thế giới thứ III. Chỉ cần công nhận về mặt pháp lí là một số tài sản khá lớn đã được hình thành chỉ sau một đêm, đấy là số tài sản mà người nghèo có thể sử dụng để mở rộng và tạo thêm tài sản mới.

Vị trí có thể sang nhượng

Quyền sở hữu tạo điều kiện cho người ta sang nhượng các vị trí. Những quy định về buôn bán hiện hành chẳng khác gì luật ăn cướp. Người bán hàng có thể sử dụng vị trí với điều kiện là người đó giành được nó trước khi những người khác kịp làm như thế. Nhưng với hệ thống pháp luật như thế, chuyển giao vị trí là việc khó khăn vì người bán hàng không có quyền sở hữu. Điều đó làm cho kinh tế trì trệ và những người bán hàng khó lợi dụng được ưu thế của vị trí buôn bán. Điều này là rõ ràng bởi vì không phải tất cả mọi chỗ đều có giá trị kinh tế như nhau cho tất cả những người bán hàng. Nếu những người bán hàng có quyền sở hữu thì họ sẽ có thể thu xếp việc sử dụng vị trí phù hợp với giá trị kinh tế cả nó. Giá trị một số vị trí sẽ tăng, những người bán hàng có lợi nhuận cao nhờ vị trí đặc thù, người bán hàng rong cũng thế. Ở Peru, de Soto phát hiện ra rằng quyền sở hữu bên ngoài hệ thống pháp luật hiện hành tạo điều kiện cho những người bán hàng rong bán vị trí của họ. Và cũng giống như mọi hàng hóa khác, vị trí cũng có giá khác nhau.

Tính linh hoạt trong sử dụng còn có nghĩa là một người có thể sử dụng vị trí vào buổi sáng, còn người khác thì sử dụng vào buổi chiều. De Soto đã nhận thấy hiện tượng như thế, ông viết:

Thí dụ, không có gì bất thường khi thấy một chỗ mà buổi sáng có người bán đồ điểm tâm, khoảng 9 hay 10 giờ thì lại có người bán nước ngọt, rồi đến trưa thì nhường cho người bán cơm trưa, sau đó, khoảng 4 giờ chiều lại được thay bằng người bán thuốc làm bằng thảo mộc, rồi đến tối lại được thay bằng người bán các món ăn Trung Hoa. Việc quay vòng như thế có thể biến một cái xe đẩy thành một tiệm lớn, góp phần tối đa hóa giá trị của nó. Tự mình, những người bán hàng khác nhau này chỉ cung cấp được một ít loại hàng hóa và dịch vụ. Nếu bán mãi một vài thứ không hiệu quả thì họ sẽ cải thiện vị trí bằng cách xoay vòng, làm cho cái xe đẩy đáp ứng được nhu cầu khác nhau của người tiêu dùng suốt cả ngày, tức là tận dụng được giá trị thương mại của vị trí suốt hai mươi bốn giờ một ngày”[4]

Việc thiết lập quyền sở hữu còn làm thay đổi cả hành vi của những người bán hàng rong. Nó khuyến khích người ta cải thiện công việc kinh doanh của chính họ. Nó tạo điều kiện cho người ta đầu tư. Nó cho phép người ta chuyển nhượng quyền kinh doanh. Hệ thống quyền sở hữu như thế giúp biến những người bán hàng không có môn bài thành khu vực có môn bài. Buôn bán trên đường phố có thể trở thành nơi ươm mầm cho những doanh nghiệp có khả năng tăng trưởng và đầy sức sống. Cả một tầng lớp doanh nhân có thể được hình thành, với tất cả những lợi ích mà họ có thể cống hiến cho xã hội.

Tiếp cận bằng quyền sở hữu đem lại không chỉ sự uyển chuyển mà còn hiệu quả hơn trong việc giữ gìn trật tự trong khu vực buôn bán. Ban quản lí tại chỗ biết rõ khu vực của mình. Họ biết ai cần hay ai không cần có mặt tại vị trí nào. Họ còn biết ngay khi người bán hàng này gây khó khăn cho người bán hàng kia và ai là người chịu trách nhiệm giải quyết. Nghĩa là, họ có khả năng quản lí những khu vực nhỏ, đặc thù trên đường phố. Những thành phố lớn với hàng chục triệu dân và hàng ngàn đường phố không thể cạnh tranh về mặt uyển chuyển với sự quản lí đã được địa phương hóa như thế.

Ở Lima, Peru, chính quyền thành phố đã phải công nhận rằng cấm buôn bán trên hè phố là việc làm vô ích. Sau đó, chính quyền thành phố quyết định tạo ra những khu chợ cho người bán hàng rong. Nhưng theo de Soto, chính quyền thành phố “không tìm cách giữ độc quyền trong việc xây chợ. Ngược lại, được sự đồng ý của chính quyền trung ương, những người muốn xây chợ còn được miễn thuế, thậm chí miễn cả phí xin phép xây dựng nữa, chính quyền thậm chí còn đưa ra những luật lệ có lợi cho các tổ chức của người buôn bán”. Kết quả là từ năm 1964 đến năm 1970, “hễ nhà nước xây một chợ thì những người buôn bán không có môn bài xây được bốn cái”[5].

Những người bán hàng rong đại diện cho cái mà de Soto gọi là “cuộc trường chinh” tới chủ nghĩa tư bản. Nếu bị chính quyền cản trở và quấy rầy thì quyền sở hữu không thể phát triển được. Kết quả sẽ là suy sụp và đổ nát. Nhưng nếu thay vì kiểm soát, chính phủ lại hành động như là người bảo vệ quyền sở hữu thì việc buôn bán trên đường phố sẽ là bước khởi đầu trên con đường dẫn tới thịnh vượng.

James Peron là chủ tịch dự án Laissez Faire Books và biên tập viên tạp chí Laissez Faire!

Nguồn: Why the Poor Need Property Rights - James Peron (The Freeman Online)

_____________________

[1] Hernando de Soto, Con đường khác (The Other Path), New York: Harper & Row, 1989), trang 66-67.

[2] Quyền tự do, quyền sở hữu và tội phạm (Liberty, Property and Crime), Ideas on Liberty, November 2001, trang 11.

[3] Hernando de Soto, Bí ẩn của tư bản (The Mystery of Capital), New York: Basic Books, 2000.

[4] Hernando de Soto, Con đường khác (The Other Path), trang 67.

[5] Sách đã dẫn, trang 81.


Theo blog Phạm Nguyên Trường
Read more…